Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là một trong những sắc thuế gián thu trọng yếu trong hệ thống tài chính quốc gia, đóng vai trò đòn bẩy kinh tế và đóng góp ổn định trên 1/5 (khoảng 20%) tổng thu ngân sách nhà nước (NSNN) tại Việt Nam. Trong giai đoạn 2019–2021, mặc dù đại dịch Covid-19 làm sụt giảm nghiêm trọng nguồn thu nội địa từ nhiều ngành dịch vụ (vận tải giảm 15,4%, du lịch quốc tế giảm 95,9%), kim ngạch xuất nhập khẩu (XNK) vẫn duy trì đà tăng trưởng cao. Theo Báo cáo xuất nhập khẩu Việt Nam 2021 của Bộ Công Thương, tổng kim ngạch XNK năm 2021 đã vượt mốc 668 tỷ USD với mức xuất siêu 4 tỷ USD, tạo áp lực và khối lượng công việc rất lớn đối với công tác quản lý thu thuế của cơ quan hải quan.
Bên cạnh đó, tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế đặt ra nhiều thách thức mới. Tính đến tháng 01/2022, Việt Nam đã ký kết 15 hiệp định thương mại tự do (FTA), bao gồm các hiệp định thế hệ mới như CPTPP và EVFTA, đồng thời đang đàm phán 02 FTA khác. Việc cắt giảm sâu các dòng thuế quan theo cam kết quốc tế đòi hỏi Nhà nước phải hoàn thiện công cụ quản lý thuế XNK để vừa bảo hộ hợp lý nền sản xuất nội địa, vừa kiểm soát luồng hàng hóa ngoại thương. Cùng lúc đó, các hành vi buôn lậu, gian lận thương mại, trốn thuế (đặc biệt là các mặt hàng vật tư y tế, thuốc điều trị Covid-19, hàng xách tay, hàng tiêu dùng giả mạo xuất xứ) và hoạt động giao dịch qua thương mại điện tử (TMĐT) xuyên biên giới diễn biến hết sức phức tạp. Thực tiễn này đòi hỏi phải có các nghiên cứu toàn diện về khung pháp lý quản lý thuế XNK theo các quy định mới của Luật Quản lý thuế năm 2019.
Tác giả xác định mục đích nghiên cứu gồm 03 nội dung:
- Nghiên cứu các quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam về quản lý thuế XNK trong mối tương quan và so sánh kinh nghiệm quốc tế.
- Nghiên cứu các thủ tục quản lý thuế mới, đặc biệt là kê khai, nộp thuế bằng phương thức điện tử và quy trình miễn, giảm, hoàn thuế điện tử.
- Đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật quản lý thuế XNK tại Việt Nam hiện nay, chỉ ra bất cập và đề xuất định hướng, giải pháp hoàn thiện.
Nhiệm vụ nghiên cứu được phân bổ tương ứng:
- Làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về thuế XNK và pháp luật quản lý thuế XNK (Chương 1).
- Phân tích thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn thi hành quản lý thuế XNK tại Việt Nam giai đoạn 2019–2021 (Chương 2).
- Đưa ra các định hướng, giải pháp và kiến nghị hoàn thiện pháp luật quản lý thuế XNK (Chương 3).
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về quản lý thuế xuất khẩu, nhập khẩu.
- Phạm vi thời gian: Tập trung từ thời điểm Luật Quản lý thuế năm 2019 có hiệu lực thi hành đến tháng 05/2022 (số liệu thống kê giai đoạn 2019–2021 và Quý I/2022).
- Phạm vi không gian: Hoạt động quản lý thuế XNK trên phạm vi toàn quốc tại Việt Nam, có liên hệ so sánh với một số quốc gia trong khu vực (Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc).
- Phạm vi nội dung: Khóa luận tập trung vào hai nhóm nội dung chính: (i) Thủ tục hành chính (TTHC) trong quản lý thuế XNK; (ii) Giám sát và bảo đảm tuân thủ pháp luật thuế XNK.
Cơ sở lý luận, khung pháp lý và phương pháp nghiên cứu
Khung lý luận và cơ sở pháp lý
Nghiên cứu tiếp cận thuế XNK dưới góc độ luật học và quản lý hành chính công. Về bản chất, thuế XNK là sắc thuế gián thu đánh vào hàng hóa được phép xuất khẩu hoặc nhập khẩu qua biên giới quốc gia, có các đặc trưng cơ bản: tính gián thu (người nộp thuế không đồng thời là người chịu thuế), tính ổn định không cao (thường xuyên được điều chỉnh biểu thuế và mức thuế suất để đáp ứng mục tiêu điều tiết kinh tế từng thời kỳ), và gắn liền mật thiết với hoạt động ngoại thương. Quản lý thuế XNK là hoạt động quản lý hành chính nhà nước do cơ quan hải quan (CQHQ) chủ trì tác động đến người nộp thuế (NNT) nhằm bảo đảm sự tuân thủ pháp luật và tạo nguồn thu ổn định cho NSNN. Cơ chế quản lý xuyên suốt được áp dụng hiện nay là cơ chế "người nộp thuế tự khai, tự tính, tự nộp và tự chịu trách nhiệm".
Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật làm cơ sở phân tích bao gồm:
- Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu năm 2016;
- Luật Quản lý thuế năm 2019 (thay thế Luật Quản lý thuế năm 2006 sửa đổi, bổ sung);
- Luật Hải quan năm 2014;
- Nghị định số 126/2020/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý thuế;
- Nghị định số 134/2016/NĐ-CP và Nghị định số 18/2021/NĐ-CP quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Thuế XNK;
- Nghị định số 101/2021/NĐ-CP sửa đổi các biểu thuế XNK ưu đãi;
- Thông tư số 38/2015/TT-BTC của Bộ Tài chính;
- Quyết định số 3394/QĐ-TCHQ năm 2021 của Tổng cục Hải quan về quy trình miễn thuế, giảm thuế;
- Công văn số 2466/TCHQ-KTSTQ năm 2020 về điều chỉnh hoạt động kiểm tra sau thông quan trong bối cảnh dịch bệnh.
Nghiên cứu cũng khảo sát kinh nghiệm lập pháp và quản lý của Hải quan Trung Quốc (áp dụng hóa đơn điện tử có mã QR, cơ chế quản lý TMĐT xuyên biên giới theo hình thức nhập khẩu ngoại quan và nhập khẩu trực tiếp), Hải quan Nhật Bản (mô hình kiểm tra sau thông quan theo chiều dọc với 3 phòng chức năng: Phòng Kiểm soát, Phòng Kiểm tra tại doanh nghiệp và Phòng Thông tin), và Hải quan Hàn Quốc (hệ thống thông quan tự động UNI-PASS, áp dụng Blockchain trong C/O điện tử, ứng dụng AI trong giám sát).
Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Sử dụng để làm rõ bản chất lý luận, phân tích các quy định pháp luật và rút ra kết luận khoa học ở từng chương.
- Phương pháp so sánh luật học: Áp dụng để so sánh các quy định giữa Luật Quản lý thuế 2006 và Luật Quản lý thuế 2019; đối chiếu quy định pháp luật Việt Nam với mô hình quản lý của Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc.
- Phương pháp thống kê mô tả: Phân tích dữ liệu thực tế về số lượng doanh nghiệp XNK, tờ khai hải quan điện tử, số cuộc kiểm tra sau thông quan, số tiền ấn định thuế và số lượng giao dịch nộp thuế điện tử.
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành (Luật - Kinh tế - Quản lý công): Đánh giá tác động qua lại giữa chính sách pháp luật, hiệu quả kinh tế và tổ chức bộ máy hành chính hải quan.
- Nguồn dữ liệu: Số liệu chính thức được trích xuất từ Tổng cục Hải quan, Cục Kiểm tra sau thông quan (Cục KTSTQ), Bộ Công Thương và Bộ Kế hoạch và Đầu tư trong giai đoạn 2019–2021.
Nội dung chính theo từng chương
CHƯƠNG 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật quản lý thuế xuất khẩu, nhập khẩu
Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về sắc thuế XNK và pháp luật quản lý thuế XNK. Tác giả phân tích 04 vai trò trọng tâm của thuế XNK: (i) Tạo nguồn thu quan trọng cho NSNN (tăng bình quân 5%–15%/năm giai đoạn 2017–2021, riêng năm 2020 thu cân đối đạt 178.048 tỷ đồng); (ii) Kiểm soát và điều tiết hoạt động ngoại thương; (iii) Bảo hộ hợp lý nền sản xuất hàng hóa nội địa; (iv) Thực hiện chính sách đối ngoại quốc gia.
Về bản chất pháp lý, pháp luật quản lý thuế XNK điều chỉnh hai nhóm quan hệ lớn:
- Theo chủ thể: Quan hệ giữa CQHQ với NNT; quan hệ giữa CQHQ với các cơ quan, tổ chức liên quan (ngân hàng thương mại, cơ quan điều tra); và quan hệ nội bộ trong hệ thống tổ chức ngành Hải quan.
- Theo nội dung: Nhóm quy định về TTHC thuế (đăng ký, kê khai, ấn định, nộp, miễn, giảm, hoàn, xóa nợ thuế) và nhóm quy định về giám sát tuân thủ (quản lý thông tin NNT, thanh tra, kiểm tra, quản lý nợ, xử lý vi phạm).
Chương này cũng phân tích 05 yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến pháp luật quản lý thuế XNK: cơ chế quản lý nhà nước; hệ thống pháp luật nội dung; năng lực cán bộ và cơ sở vật chất kỹ thuật hải quan; ý thức chấp hành của người nộp thuế; và cam kết quốc tế trong các FTA. Đồng thời, tác giả rút ra 03 bài học kinh nghiệm quốc tế cho Việt Nam gồm: nâng cao năng lực chống thất thu gắn với tạo thuận lợi thương mại; sớm ban hành quy chế quản lý thuế chuyên biệt cho TMĐT xuyên biên giới; và đẩy mạnh chuyển đổi số toàn diện (hóa đơn điện tử có mã xác thực, cơ chế một cửa quốc gia).
CHƯƠNG 2: Thực trạng pháp luật về quản lý thuế xuất khẩu, nhập khẩu ở Việt Nam hiện nay
Chương 2 tập trung phân tích thực trạng các văn bản quy phạm pháp luật và số liệu thực thi thực tế trong giai đoạn 2019–2021, chia thành hai phần chính:
1. Thực trạng pháp luật về thủ tục hành chính thuế xuất khẩu, nhập khẩu
- Đăng ký thuế: Luật Quản lý thuế 2019 đã chuẩn hóa việc cấp và sử dụng mã số thuế, thống nhất sử dụng mã số thuế làm mã số đăng ký tờ khai hải quan. Số lượng doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực XNK chịu ảnh hưởng bởi dịch Covid-19, giảm từ 116.302 doanh nghiệp (2019) xuống 95.638 doanh nghiệp (2020) và 93.031 doanh nghiệp (2021).
- Kê khai thuế: Áp dụng kê khai điện tử thông qua Hệ thống VNACCS/VCIS. Quy định khai bổ sung hồ sơ hải quan (khoản 1 Điều 20 Thông tư 38/2015/TT-BTC) đã bao quát các thời điểm trước, trong và sau thông quan. Từ 01/01/2022, Tổng cục Hải quan triển khai phần mềm khai hải quan miễn phí trên nền tảng web, ước tính tiết kiệm 432 tỷ đồng chi phí phần mềm cho hơn 93 nghìn doanh nghiệp. Số lượng tờ khai hải quan điện tử đạt 13,24 triệu tờ (2019), giảm nhẹ xuống 12,85 triệu tờ (2020) và tăng lên 13,74 triệu tờ (2021).
- Ấn định thuế: Nghị định 126/2020/NĐ-CP đã quy định chi tiết 13 trường hợp ấn định thuế. Luật Quản lý thuế 2019 đã cân bằng quyền và trách nhiệm: nếu ấn định thừa thì CQHQ hoàn trả kèm bồi thường (nếu có theo quyết định khiếu nại/bản án), nếu ấn định thiếu thì NNT nộp bổ sung. Hoạt động ấn định thuế chủ yếu diễn ra qua khâu kiểm tra sau thông quan (KTSTQ). Do thực hiện Công văn 2466/TCHQ-KTSTQ tạm dừng kiểm tra tuân thủ định kỳ trong dịch Covid-19, số cuộc KTSTQ và tiền ấn định giảm: năm 2019 đạt 295 cuộc (ấn định 818,36 tỷ đồng), năm 2020 đạt 102 cuộc (ấn định 512,30 tỷ đồng), năm 2021 đạt 106 cuộc (ấn định 657,12 tỷ đồng).
- Nộp thuế: Luật Quản lý thuế 2019 đã sửa đổi thứ tự ưu tiên thanh toán tiền thuế nợ, tiền phạt (ưu tiên khoản nợ quá hạn bị cưỡng chế trước), giảm tình trạng nợ xấu. Số lượng giao dịch nộp thuế điện tử qua hệ thống thông quan 24/7 và ngân hàng thu hộ đạt tỷ lệ rất cao: 98,19% (2019), 99,49% (2020) và 99,60% (2021). Tuy nhiên, văn bản chỉ ra điểm thiếu sót là Điều 3 Luật Thuế XNK 2016 chưa quy định chủ sở hữu sàn TMĐT, website TMĐT là đối tượng nộp thuế.
- Miễn, giảm, hoàn thuế và xóa nợ thuế: Nghị định 134/2016/NĐ-CP quy định 24 trường hợp miễn thuế; Quyết định 3394/QĐ-TCHQ chuẩn hóa 3 bước xử lý hồ sơ miễn, giảm thuế. Luật Quản lý thuế 2019 rút ngắn thời hạn giải quyết hoàn thuế: hoàn thuế trước - kiểm tra sau giảm xuống còn 06 ngày (trước đây là 15 ngày); kiểm tra trước - hoàn thuế sau giảm xuống 40 ngày (trước đây là 60 ngày). Hệ thống miễn, giảm, hoàn, không thu thuế điện tử (Hệ thống MGH) triển khai từ cuối năm 2020 giúp tự động hóa khâu xử lý. Về xóa nợ thuế, Điều 85 Luật Quản lý thuế 2019 bổ sung mốc thời gian 10 năm đối với khoản nợ không có khả năng thu hồi và trường hợp bị ảnh hưởng bởi thiên tai, dịch bệnh.
2. Thực trạng pháp luật về giám sát và bảo đảm tuân thủ pháp luật thuế XNK
Tác giả phân tích các quy định và kết quả thực hiện về quản lý thông tin rủi ro NNT, quy trình thanh tra chuyên ngành, kiểm tra nội bộ, các biện pháp cưỡng chế trích tiền từ tài khoản, tạm dừng làm thủ tục hải quan, kê biên/tịch thu tài sản để thu hồi nợ thuế và công tác xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan.
CHƯƠNG 3: Những giải pháp hoàn thiện pháp luật về quản lý thuế xuất khẩu, nhập khẩu
Chương 3 xây dựng hệ thống giải pháp dựa trên các định hướng: bám sát Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021–2030, Chiến lược cải cách hệ thống thuế đến năm 2030; đảm bảo phù hợp với các cam kết FTA; và đảm bảo tính đồng bộ, minh bạch, khả thi của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật.
Các giải pháp và kiến nghị cụ thể gồm:
- Hoàn thiện thể chế quản lý TMĐT: Khẩn trương thông qua và ban hành dự thảo Nghị định về quản lý hải quan đối với hàng hóa XNK giao dịch qua thương mại điện tử; bổ sung chủ sở hữu sàn giao dịch TMĐT, đơn vị vận chuyển vào nhóm chủ thể có trách nhiệm kê khai, nộp thuế.
- Hiện đại hóa công tác quản lý: Tiếp tục nâng cấp Hệ thống VNACCS/VCIS, hoàn thiện Hệ thống MGH, mở rộng triển khai Cơ chế một cửa quốc gia và Cơ chế một cửa ASEAN; đồng bộ hóa cơ sở dữ liệu hóa đơn điện tử giữa cơ quan Thuế và cơ quan Hải quan.
- Nâng cao hiệu quả thu và chống thất thu: Tăng cường phân tích dữ liệu quản lý rủi ro, đẩy mạnh kiểm tra sau thông quan theo chuyên đề rủi ro cao (mã số hàng hóa, xuất xứ C/O, trị giá hải quan); kiểm soát chặt chẽ hàng hóa diện miễn thuế, tạm nhập tái xuất.
- Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ: Tổ chức đào tạo chuyên sâu về nghiệp vụ kiểm tra sau thông quan, kỹ năng điều tra chống buôn lậu, nâng cao trình độ CNTT và đạo đức công vụ cho công chức hải quan.
- Tuyên truyền và hỗ trợ người nộp thuế: Đa dạng hóa hình thức phổ biến pháp luật thuế XNK, tổ chức đối thoại hải quan - doanh nghiệp để giải quyết kịp thời vướng mắc về thủ tục hành chính.
Kết quả và đóng góp
Số liệu thống kê thực chứng
Khóa luận đã tập hợp và hệ thống hóa nhiều chỉ số thống kê thực tế minh họa cho hiệu quả thi hành pháp luật quản lý thuế XNK tại Việt Nam:
| Chỉ số / Tiêu chí |
Năm 2019 |
Năm 2020 |
Năm 2021 |
| Tổng số doanh nghiệp hoạt động XNK (Doanh nghiệp) |
116.302 |
95.638 |
93.031 |
| Tỷ lệ DN XNK / Tổng số DN cả nước (%) |
15,0% |
— |
— |
| Số tờ khai Hải quan điện tử tiếp nhận (Triệu tờ) |
13,24 |
12,85 |
13,74 |
| - Tờ khai xuất khẩu |
— |
6,55 |
7,11 |
| - Tờ khai nhập khẩu |
— |
6,30 |
6,63 |
| Số cuộc KTSTQ tại Cục KTSTQ (Cuộc) |
295 |
102 |
106 |
| Tổng số tiền ấn định thuế qua KTSTQ (Tỷ đồng) |
818,36 |
512,30 |
657,12 |
| Số tiền thực thu vào NSNN qua KTSTQ (Tỷ đồng) |
820,57 |
525,17 |
654,78 |
| Tỷ lệ giao dịch nộp thuế điện tử (%) |
98,19% |
99,49% |
99,60% |
Đóng góp của tác giả
- Tính mới về thời điểm nghiên cứu: Khóa luận là một trong những công trình nghiên cứu toàn diện đầu tiên đánh giá tác động của Luật Quản lý thuế năm 2019 đối với lĩnh vực thuế XNK, đặt trong bối cảnh thực thi các FTA thế hệ mới và tình hình đại dịch Covid-19.
- Chỉ ra khoảng trống pháp lý: Phát hiện sự thiếu vắng quy định về đối tượng nộp thuế XNK đối với các giao dịch qua sàn TMĐT xuyên biên giới trong Luật Thuế XNK 2016, phân tích sự phân tán trong quy định thời hạn nộp thuế giữa Luật Thuế XNK, Luật Hải quan và Luật Quản lý thuế.
- Đánh giá hiệu quả chuyển đổi số: Cung cấp dữ liệu cụ thể về tỷ lệ nộp thuế điện tử (đạt 99,6%), đánh giá việc triển khai Hệ thống MGH điện tử và phần mềm khai báo web miễn phí giúp tiết kiệm ước tính 432 tỷ đồng cho doanh nghiệp XNK.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Phạm vi nghiên cứu chủ yếu tập trung vào các quy định pháp luật chung về TTHC và giám sát tuân thủ, số liệu thực tiễn tập trung ở giai đoạn 2019–2021 và sơ bộ Quý I/2022. Khóa luận chưa đi sâu vào việc phân tích chi tiết cơ chế quản lý thuế đối với từng nhóm mặt hàng xuất nhập khẩu đặc thù hoặc các khía cạnh tranh chấp quốc tế phức tạp tại WTO.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Nghiên cứu đánh giá tác động thực tế sau khi Nghị định về quản lý hải quan đối với hàng hóa giao dịch qua thương mại điện tử được Chính phủ chính thức ban hành; nghiên cứu ứng dụng công nghệ chuyên sâu (công nghệ chuỗi khối Blockchain trong quản lý C/O, ứng dụng trí tuệ nhân tạo AI trong quản lý rủi ro phân luồng hàng hóa) theo bài học kinh nghiệm từ Hải quan Hàn Quốc.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng sử dụng: Khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên, học viên cao học ngành Luật (chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Tài chính - Ngân hàng), ngành Thuế - Hải quan, Kinh doanh quốc tế và các nhà nghiên cứu chính sách quản lý công.
- Nội dung giá trị:
- Phần so sánh các điểm mới giữa Luật Quản lý thuế 2019 và Luật Quản lý thuế 2006 (thứ tự thanh toán nợ, thẩm quyền và trách nhiệm ấn định thuế, thời hạn giải quyết hoàn thuế).
- Quy trình thực hiện hồ sơ miễn, giảm, hoàn thuế điện tử theo Hệ thống MGH và Quyết định 3394/QĐ-TCHQ.
- Phân tích mô hình tổ chức kiểm tra sau thông quan của Nhật Bản và cơ chế quản lý TMĐT của Trung Quốc.
Câu hỏi thường gặp
1. Luật Quản lý thuế năm 2019 đã rút ngắn thời hạn giải quyết hồ sơ hoàn thuế XNK như thế nào so với trước đây?
Theo quy định tại Luật Quản lý thuế năm 2019, thời hạn giải quyết hồ sơ hoàn thuế XNK được rút ngắn đáng kể:
- Đối với hồ sơ thuộc diện hoàn thuế trước, kiểm tra sau: CQHQ phải ra quyết định trong thời hạn tối đa 06 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ (trước đây là 15 ngày).
- Đối với hồ sơ thuộc diện kiểm tra trước, hoàn thuế sau: Thời hạn ra quyết định là tối đa 40 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ (trước đây là 60 ngày).
2. Nguyên nhân nào khiến số cuộc kiểm tra sau thông quan (KTSTQ) năm 2020–2021 giảm mạnh so với năm 2019?
Số cuộc KTSTQ tại Cục KTSTQ giảm từ 295 cuộc (năm 2019) xuống còn 102 cuộc (năm 2020) và 106 cuộc (năm 2021) là do Tổng cục Hải quan ban hành Công văn số 2466/TCHQ-KTSTQ vào tháng 04/2020. Văn bản này chỉ đạo tạm dừng các cuộc KTSTQ đánh giá tuân thủ định kỳ để hỗ trợ doanh nghiệp phục hồi sản xuất kinh doanh trong đại dịch Covid-19, chỉ tập trung kiểm tra khi có dấu hiệu rủi ro hoặc vi phạm pháp luật rõ ràng.
3. Thứ tự ưu tiên thanh toán tiền nợ thuế, tiền phạt XNK theo Luật Quản lý thuế 2019 có điểm gì mới?
Luật Quản lý thuế 2019 đã thay đổi thứ tự thanh toán nhằm giảm nợ xấu và hạn chế cưỡng chế:
- Tiền nợ thuế, tiền phạt, tiền chậm nộp quá hạn thuộc đối tượng áp dụng biện pháp cưỡng chế;
- Tiền nợ thuế, tiền phạt, tiền chậm nộp quá hạn chưa thuộc đối tượng áp dụng biện pháp cưỡng chế;
- Tiền nợ thuế, tiền phạt, tiền chậm nộp mới phát sinh.
(Trước đây, Luật 2006 quy định thứ tự: tiền thuế nợ $\rightarrow$ tiền thuế truy thu $\rightarrow$ tiền thuế phát sinh $\rightarrow$ tiền phạt, gây bất cập cho công tác quản lý của CQHQ).
4. Tỷ lệ giao dịch nộp thuế xuất nhập khẩu bằng phương thức điện tử tại Việt Nam giai đoạn 2019–2021 đạt mức bao nhiêu?
Nhờ triển khai Đề án nộp thuế điện tử và thông quan 24/7 kết nối với các ngân hàng thương mại, tỷ lệ giao dịch nộp thuế điện tử tăng liên tục và chiếm tỷ trọng gần như tuyệt đối: đạt 98,19% năm 2019, tăng lên 99,49% năm 2020 và đạt 99,60% tổng số lượng giao dịch trong năm 2021.
5. Khóa luận chỉ ra hạn chế lớn nhất về đối tượng nộp thuế XNK trong Luật Thuế XNK 2016 là gì?
Hạn chế lớn nhất được chỉ ra tại Điều 3 Luật Thuế XNK năm 2016 là quy định 07 nhóm đối tượng nộp thuế nhưng chưa bao hàm chủ thể thực hiện XNK thông qua thương mại điện tử xuyên biên giới (như chủ sở hữu sàn giao dịch TMĐT, chủ website bán hàng hoặc đơn vị vận chuyển được ủy quyền), dẫn đến khó khăn trong kiểm soát và nguy cơ thất thu thuế đối với luồng hàng hóa này.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Đoàn Thị Hải Yến đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và phân tích sâu sắc thực trạng pháp luật quản lý thuế xuất khẩu, nhập khẩu tại Việt Nam theo các chuẩn mực của Luật Quản lý thuế năm 2019. Bằng việc kết hợp phương pháp phân tích luật học với hệ thống dữ liệu thống kê hải quan giai đoạn 2019–2021, công trình đã làm rõ những chuyển biến tích cực trong hiện đại hóa thủ tục hải quan điện tử, đồng thời chỉ ra các điểm nghẽn pháp lý đối với hoạt động thương mại điện tử xuyên biên giới. Các định hướng và 05 nhóm giải pháp kiến nghị được đề xuất mang tính thực tiễn cao, đóng góp cơ sở khoa học cho việc hoàn thiện thể chế quản lý thuế và nâng cao hiệu lực thực thi của ngành Hải quan Việt Nam.