CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT QUẢN LÝ THUẾ XUẤT KHẨU, NHẬP KHẨU 1. Những vấn đề lý luận về quản lý thuế xuất khẩu, nhập khẩu 1. Lý luận về thuế xuất khẩu, nhập khẩu 1. Định nghĩa thuế xuất khẩu, nhập khẩu Thuế ra đời cùng với sự ra đời của Nhà nước, là tiềm lực kinh tế, tạo lập nguồn thu tài chính để Nhà nước duy trì hoạt động cũng như thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình.
Có thể hiểu “ Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho Nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định nhằm sử dụng cho mục đích công cộng.” Căn cứ vào mục đích điều tiết của Nhà nước có thể phân loại thuế thành 2 loại: thuế trực thu và thuế gián thu. Dựa trên cách thức phân loại đó, thuế gián thu bao gồm thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế giá trị gia tăng, thuế xuất nhập khẩu, thuế bảo vệ môi trường,. Trong số đó thuế xuất khẩu, nhập khẩu có ý nghĩa quan trọng hơn cả trong việc điều tiết hoạt động xuất nhập khẩu, bảo hộ nền sản xuất trong nước, ảnh hưởng đến các chính sách kinh tế đối ngoại của nhà nước. Luật thuế xuất nhập khẩu hàng mậu dịch đầu tiên ở Việt Nam được thông qua và có hiệu lực từ ngày 30/1/1988.
Đến nay đã trải qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung để phù hợp với tình hình kinh tế và các chính sách thương mại, hiện nay Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu mới nhất được Quốc Hội ban hành và có hiệu lực từ ngày 06/04/2016. Tuy đã trải qua hơn 30 năm, vẫn chưa có một khái niệm cụ thể, rõ ràng và đồng nhất về thuế xuất khẩu, nhập khẩu.Nguyễn Phạm Quý Hương: “Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là loại thuế gián thu, một yếu tố cấu thành trong giá cả hàng hóa, là một phần thu nhập được tạo ra từ các hoạt động xuất nhập khẩu, nhập khẩu hàng hóa mà các tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ đóng góp cho Nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu quy định nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước và sử dụng cho mục đích chung của toàn xã hội” (Nguyễn Phạm Quý Hương, 2014, 15). Theo đó thuế xuất khẩu, nhập khẩu là loại thuế được cấu thành trong giá 8 cả của hàng hóa, cá nhân, tổ chức có nghĩa vụ thu-nộp theo quy định của pháp luật nhằm mục đích cho tiêu chung cho toàn xã hội. Thuế xuất nhập khẩu hay thuế xuất-nhập khẩu hoặc thuế quan là tên gọi chung để gọi hai loại thuế trong lĩnh vực thương mại quốc tế.
Đó là thuế nhập khẩu và thuế xuất khẩu. Thuế nhập khẩu là một loại thuế mà một quốc gia hay vùng lãnh thổ đánh vào hàng hóa có nguồn gốc từ nước ngoài trong quá trình nhập khẩu. Thuế xuất khẩu là loại thuế đánhvào hàng hóa có nguồn gốc từ trong nước xuất ra khỏi lãnh thổ trong quá trình xuất khẩu. Khái niệm “thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu” cũng đã được đề cập trong Từ điển Luật học (2016, tr.615) như sau: “Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là một loại thuế gián thu đánh vào các loại hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu qua cửa khẩu biên giới”.
Ở đây đã nói tới đặc điểm của thuế xuất khẩu, nhập khẩu là loại thuế mang tính chất gián thu, người chịu thuế là chủ thể mua hàng hóa và sử dụng hàng hóa XNK và NNT là chủ thể trực tiếp cung cấp hàng hóa XNK. Khái niệm “thuế xuất khẩu” cũng đã được đề cập trong Từ điển Kinh tế học (Anh – Việt giải thích) (2012, tr.446) như sau: “ Thuế nhập khẩu là khoản thuế mà Chính Phủ đánh vào sản phẩm nhập khẩu. Thuế nhập khẩu được sử dụng để tăng nguồn thu cho Chính Phủ và bảo hộ ngành sản xuất trong nước khỏi sự cạnh tranh nước ngoài”. Theo định nghĩa này, thuế nhập khẩu là khoản tiền NNT phải nộp cho Nhà nước thông qua cơ quan tổ chức thi hành pháp luật là Chính Phủ, mục đích tăng thu NSNN, bảo hộ sản xuất trong nước bằng cách sử dụng thuế nhập khẩu cao kho đó hàng hóa nước ngoài sẽ giảm sức cạnh tranh trong nước.
Từ việc nghiên cứu các định nghĩa trên, tác giả xin đưa ra khái niệm thuế xuất khẩu, nhập khẩu như sau: Thuế xuất khẩu, nhập khẩu là một sắc thuế mang tính gián thu, đánh vào hàng hóa được phép xuất khẩu hoặc nhập khẩu qua cửa khẩu biên giới quốc gia. Đặc điểm thuế xuất khẩu, nhập khẩu Thuế xuất khẩu, nhập khẩu là một sắc thuế quan trọng, mang đầy đủ các đặc điểm chung của thuế: là khoản thu bắt buộc vào ngân sách nhà nước, mang tính quyền 9 lực và không mang tính đối giá, không hoàn trả trực tiếp. Ngoài những đặc điểm chung này, thuế xuất khẩu, nhập khẩu còn mang những đặc trưng riêng: Thứ nhất, thuế xuất khẩu, nhập khẩu là sắc thuế mang tính chất gián thu (Lê Thị Diệu Huyền, 2018, 99), có nghĩa: người nộp thuế không đồng thời là người chịu thuế. Người nộp thuế là người thực hiện hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa, người chịu thuế là người tiêu dùng bởi tiền thuế đã được cấu thành trong giá cả hàng hóa.
Nhà nước thu thuế xuất khẩu, nhập khẩu của người tiêu dùng bằng cách gián tiếp thông qua người cung cấp hàng hóa, dịch vụ xuất nhập khẩu.Việc tăng, giảm thuế xuất khẩu, nhập khẩu sẽ tác động trực tiếp tới giá cả hàng hóa từ đó ảnh hưởng tới nhu cầu của người tiêu dùng, buộc các nhà sản suất và nhập khẩu hàng hóa phải điều chỉnh hoạt động sản xuất kinh doanh cho phù hợp. Thứ hai, thuế xuất khẩu, nhập khẩu là sắc thuế mang tính ổn định không cao. Để phù hợp với mục tiêu kinh tế trong từng thời kỳ, bảo hộ nền kinh tế trong nước, việc điều chỉnh, thay đổi danh mục hàng hóa, biểu thuế suất thuế xuất khẩu, thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi,.là rất cần thiết. Chỉ sau 5 năm khi Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 2016 có hiệu lực.
Chính phủ đã ban hành hàng loạt các Nghị định, Thông tư điều chỉnh loại thuế này. Chính phủ vừa ban hành Nghị định 101/2021/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 122/2016/NĐ-CP ngày 1/9/2016 và Nghị định số 57/2020/NĐ-CP ngày 25/5/2020 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 122/2016/NĐ-CP về Biểu thuế xuất khẩu, Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi, Danh mục hàng hóa và mức thuế tuyệt đối, thuế hỗn hợp, thuế nhập khẩu ngoài hạn ngạch thuế quan và Nghị định số 125/2017/NĐ-CP ngày 16/11/2017 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 122/2016/NĐ-CP. Thứ ba, thuế xuất khẩu, nhập khẩu gắn liền với hoạt động ngoại thương, chịu sự ảnh hưởng trực tiếp bởi các yếu tố quốc tế (Lê Thị Diệu Huyền, 2018, 100). Khi đánh thuế xuất khẩu nhập khẩu phải dựa trên chủng loại và giá trị thực tế của hàng hóa được phép xuất nhập khẩu, đòi hỏi nhà nước phải có chính sách kiểm tra chặt chẽ.
Qua đó, thuế xuất khẩu, nhập khẩu được coi là công cụ đắc lực giúp Nhà nước kiểm soát hoạt động ngoại thương. Sự phát triển và biến động không ngừng của xu thế toàn cầu hóa, hội nhập và mở cửa hiện nay cùng với sự ra đời của các Hiệp định 10 thương mại tự do (FTAs) ảnh hưởng trực tiếp đến tới thuế xuất khẩu, nhập khẩu. Để thực thi hiệu quả nhằm đạt được các mục tiêu đề ra, đòi hỏi cơ quan quản lý có sự linh hoạt, chủ động thay đổi chính sách phù hợp với yêu cầu kinh tế của từng thời kì tùy theo sự biến động của kinh tế thế giới và thương mại quốc tế, ngoài ra chính sách thuế xuất khẩu nhập khẩu còn phải đảm bảo phù hợp với hiệp định, cam kết quốc tế mà nhà nước đã ký kết. Vai trò thuế xuất khẩu nhập khẩu Mặc dù xuất hiện muộn hơn so với một số sắc thuế nội địa nhưng thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu đã nhanh chóng khẳng định được vai trò, tác dụng to lớn của mình đối với nền kinh tế quốc gia, đặc biệt là vai trò kiểm soát hoạt động xuất – nhập khẩu hàng hóa bên ngoài và bảo hộ nền sản xuất trong nước.
Ngày này cho dù xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế đã từng bước ảnh hưởng ảnh hưởng đến “số phận” của thuế xuất khẩu, nhập khẩu theo hướng hạn chế vai trò của loại thuế này ở mỗi quốc gia xong thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu vẫn sẽ là giải pháp quản lý vĩ mô có hiệu quả đối với nền kinh tế trong nước, nhất là đối với những quốc gia đang trong giá trình chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường như Việt Nam. Nhìn chung thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu luôn có vai trò sau đây: Thứ nhất, thuế xuất khẩu, nhập khẩu là nguồn thu quan trọng cho ngân sách nhà nước. Trong cơ cấu thuế, thuế xuất khẩu, nhập khẩu chiếm tỷ trọng khá lớn và không ngừng tăng trong giai đoạn 2017-2021, bình quân giai đoạn này mỗi năm số thu cân đối từ hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu tăng dao động từ 5% đến 15%. Năm 2020 do đại dịch Covid-19 toàn cầu khoản thu cân đối giảm còn 178,048 nghìn tỷ đồng, giảm 20% so với năm 2019 (Tổng cục Hải quan, 2020).
Có thể thấy ở thời điểm khác nhau, lượng đóng góp vào NSNN của thuế xuất khẩu nhập khẩu là khác nhau dựa vào tình hình kinh tế - xã hội, chính sách thương mại của Nhà nước qua các năm. Tuy nhiên, khoản đóng góp vào NSNN của thuế xuất khẩu, nhập khẩu vẫn chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu nguồn thu NSNN, chỉ đứng sau nguồn thu nội địa. Thứ hai, thuế xuất khẩu, nhập khẩu là công cụ quan trọng để nhà nước kiểm soát hoạt hoạt động ngoại thương, điều tiết hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa 11 (Nguyễn Thị Thanh Hoài, 2019, 96). Hoạt động ngoại thương có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển kinh tế nội địa, đem lại nguồn lợi lớn đồng thời giải quyết các vấn đề kinh tế vĩ mô của nhà nước.
Tuy nhiên, hoạt động ngoại thương mở rộng, nếu không được kiểm soát chặt chẽ sẽ dẫn đến những tác hại đối với kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội như: sự phụ thuộc về kinh tế, chính trị; phong tục, tập quán, lối sống quốc gia bị ảnh hưởng. Để khuyến khích hay hạn chế các loại hàng hóa đó, Nhà nước sử dụng thuế quan như một công cụ hữu hiệu.