Chương 1: Cơ sở lý luận của pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp Chương 2: Thực trạng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp ở Việt Nam. 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA PHÁP LUẬT VỀ ƢU ĐÃI THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm pháp luật về ƣu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp 1.1 Ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp Một trong những mục tiêu cơ bản mà hệ thống chính sách thuế của các nước bắt buộc phải hướng tới đó là đảm bảo tính cạnh tranh của hệ thống thuế trong nền kinh tế ngày càng tăng. Cạnh tranh về thuế là một quá trình mà ở đó các nước cố gắng để thu hút vốn cũng như lợi nhuận chịu thuế bằng cách giảm đánh thuế vào vốn.
Ưu đãi thuế là một biện pháp được sử dụng một cách phổ biến ở các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển và các quốc gia có nền kinh tế chuyển đổi. Theo các nhà kinh tế thuôc IMF (Quỹ tiền tệ quốc tế) thì – ưu đãi thuế là các biện pháp nhằm khuyến khích các hoạt động kinh tế, đặc biệt là hoạt động đầu tư [79]. Còn từ điển Collins thì cho rằng: Ưu đãi thuế chính là việc chính phủ cho phép giảm trừ một số tiền thuế nào đó cho một nhóm người cụ thể hoặc một tổ chức cụ thể nào đó [41]. Tuy nhiên, trong từ điển kinh doanh lại cho rằng: ưu đãi thuế là việc miễn hay giảm thuế cho một hoạt động đặc biệt nào đó như việc đầu tư mang tính chất vốn trong giai đoạn nhất định [72].
Như vậy, trong các khái niệm có thể thấy ưu đãi thuế đều được hiểu là việc khuyến khích, tạo điều kiện về thuế cho người nộp thuế. Việc khuyến khích này có thể nhằm khuyến khích, hỗ trợ cho một ngành nghề, hoạt động kinh tế nào đó trong nội địa quốc gia đó. Ưu đãi thuế có thể được thực hiện trong thời gian dài hoặc một giai đoạn nhất đinh. Với các khái niệm nói trên ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp là việc Nhà nước dành cho các doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực, địa bàn, ngành nghề mà Nhà nước khuyến khích phát triển với những điều kiện thuận lợi hơn về thuế suất về thời gian miễn, giảm thuế và những vấn đề khác nhằm thu hút đầu tư, hỗ trợ, giúp đỡ các doanh nghiệp đó trong quá trình hoạt động, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội.
6 Từ khái niệm và phân tích ở trên ta có thể thấy ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp về bản chất là nhằm thực hiện các mục tiêu ưu đãi về thuế thông qua việc miễn, giảm hay khấu trừ thuế cho các doanh nghiệp hay các nhà đầu tư khi đầu tư vào một lĩnh vực kinh tế nhất định trong một ngành nghề hay khu vực nhất định. Định nghĩa pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp Pháp luật về ưu đãi thuế TNDN được hiểu là tổng hợp các quy định do Nhà nước ban hành về các biện pháp, lợi thế nhằm giảm bớt gánh nặng về thuế thu nhập cho những doanh nghiệp hoặc nhóm doanh nghiệp dưới hình thức các ưu đãi về thuế suất, thời gian miễn giảm thuế và các hình thức khác trong những điều kiện nhất định so với các doanh nghiệp khác, qua đó nhằm khuyến khích và thu hút đầu tư vào những lĩnh vực, địa bàn nhất định. Nếu như việc ưu đãi thuế đối với cá nhân bao gồm các quy định như miễn giảm, khấu trừ thuế cho các cá nhân nộp thuế thường chỉ có tác dụng nhất định đối với thu nhập tiêu dùng hay các hành vi tiết kiệm của các cá nhân thì ưu đãi đối với thuế thu nhập doanh nghiệp có ảnh hưởng khá lớn tới việc cạnh tranh thuế, thu hút vốn đầu tư và thường được xem là một trong những nhân tố có ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của nhà đầu tư. Như vậy, đối tượng điều chỉnh của chế định pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp là những quan hệ phát sinh trong quá trình thực hiện các chính sách, thủ tục về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp của nhà nước, doanh nghiệp trong việc thực hiện kinh doanh, đầu tư và cân đối nền kinh tế.
Tính chất của pháp luật về ƣu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp Xuất phát từ tính chất của các quan hệ thuế do Luật Thuế điều chỉnh, pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp mang tính chất của một ngành luật công. Để có được những lợi ích về kinh tế thông qua việc khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào các ngành nghề, lĩnh vực mà Nhà nước mong muốn, Chính phủ sẽ ban hành những chính sách nhằm thu hút đầu tư do vậy có thể thấy việc ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp không phải sự lựa chọn của đối tượng được hưởng những chính sách ưu đãi mà xuất phát từ mong muốn, định hướng, yêu cầu của nhà nước. Xuất phát từ những mong muốn có được lợi ích về kinh tế thông qua việc thu hút 7 đầu tư, Nhà nước đơn phương đưa ra những quyết định theo ý chí của mình mà không cần có sự thỏa thuận của các đối tượng còn lại. Quyền đơn phương đưa ra những quyết định là cơ sở quan trọng để nhà nước có thể ban hành một hệ thống các văn bản pháp luật về ưu đãi thuế trong nước cũng như giải quyết các vấn đề liên quan đến quyền được hưởng ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp.
Việc sử dụng phương pháp mệnh lệnh quyền uy trong quan hệ về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp thể hiện trong việc Nhà nước hay cụ thể ở đây là các cơ quan quản lý thuế có quyền ra thông báo, quyết định về việc được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp và yêu cầu các đối tượng muốn tham gia vào quan hệ này phải thực hiện đúng. Tức là trước hết việc hưởng những ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp phải đáp ứng được các điều kiện và phải thực hiện theo các trình tự, thủ tục của cơ quan thuế đề ra; nếu đối tượng muốn được hưởng không thực hiện đầy đủ các thủ tục, lợi dụng và vi phạm các quy định mà cơ quan thuế đề ra thì trong trường hợp cần thiết các cơ quan thuế có thể áp dụng các biện pháp cưỡng chế, để xử lý buộc các đối tượng phải thực hiện đúng ngĩa vụ của mình. Từ đó ta có thể thấy quyền và nghĩa vụ pháp lí trong quan hệ pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp được đảm bảo thực hiện thông qua các mệnh lệnh hành chính và biện pháp cưỡng chế nhà nước. Đặc điểm của pháp luật về ƣu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp Trên phương diện là một chế định pháp luật về thuế nhằm giảm bớt gánh nặng về thuế cho những doanh nghiệp hoặc nhóm doanh nghiệp dưới hình thức các ưu đãi về thuế suất, thời gian miễn giảm thuế thì pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp có một số đặc điểm như sau: Thứ nhất, quan hệ về pháp luật ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp mang nặng tính quyền lực.
Như ta thấy việc ưu đãi về thuế là việc miễn, giảm hay khấu trừ thuế cho các doanh nghiệp hay các nhà đầu tư khi đầu tư vào một lĩnh vực kinh tế nhất định trong một ngành nghề hay một khu vực nhất định. Do đó có thể thấy quan hệ pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp được hình thành trên cơ sở ý chí mong muốn thu hút đầu tư vào một số nghành nghề và địa bàn nhất định của nhà nước. Vì vậy quyền và nghĩa vụ pháp lý trong quan hệ pháp luật về ưu đãi thuế 8 thu nhập doanh nghiệp sẽ do nhà nước đơn phương ban hành dựa trên những nhu cầu và mong muốn của mình. Thứ hai, ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp là loại thuế phức tạp có tính ổn định không cao, việc quản lí thuế, thu thuế tương đối khó khăn, chi phí quản lí thuế thường lớn hơn so với các loại thuế khác.
Đối với ưu đãi về thuế thu nhập ngoài việc xác định các khoản thu nhập, thời hạn cư trú của chủ sở hữu thu nhập, tính ổn định của thu nhập.còn phải xác định các căn cứ, điều kiện, phần thu nhập được hưởng ưu đãi khi tính thuế. Trong phần xác định thu nhập chịu thuế phải xác định được các khoản khấu trừ hợp lí để tiến hành khấu trừ khi tính thuế nhằm đảm bảo mục tiêu công bằng và khuyến khích được đối với các nhà đầu tư khi thực hiện hoạt động đầu tư và kinh doanh vào những ngành nghề, địa bàn mà nhà nước mong muốn. Thứ ba, ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp là một biện pháp để điều tiết kinh tế, điều hòa thu nhập xã hội nên thường gắn liền với những chính sách kinh tế xã hội của nhà nước. Bởi vậy, pháp luật ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp ở các nước thường có những quy định về chế độ miễn, giảm thuế để đảm bảo chức năng khuyến khích của việc ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp từ đó thực hiện các mục tiêu điều tiết tạo sự chuyển dịch cân bằng các nguồn tài chính trong xã hội và cải thiện điều kiện ở những vùng kém phát triển.
Mục đích của pháp luật về ƣu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp Từ những phân tích ở trên ta có thể thấy việc ưu đãi thuế có tính chất là khuyến khích, tạo điều kiện về thuế cho người nộp thuế. Việc khuyến khích này có thể nhằm mục tiêu cạnh tranh, thu hút vốn đầu tư nước ngoài hoặc có thể nhằm khuyến khích, hỗ trợ cho một ngành nghề, hoạt động kinh tế nào đó trong một quốc gia. Ưu đãi thuế có thể thực hiện trong một thời gian dài hoặc một thời gian nhất định. Việc áp dụng các ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp nhằm mục đích sau: Thứ nhất: Pháp luật về ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp nhằm thu hút vốn đầu tư một cách hiệu quả.
Ưu đãi thuế là hình thức mà chính phủ các nước có thể quản lý được thực hiện một cách nhanh chóng và rõ ràng nhất. Các quy định về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp dễ dàng nhận thấy chứ không giống như những 9 nhân tố như trình độ lao động hay cơ sở hạ tầng, vì vậy dễ thu hút nhà đầu tư hơn những yếu tố khác. Thứ hai: Ưu đãi thuế góp phần cải thiện điều kiện ở những vùng kinh tế kém phát triển.