Tổng quan nghiên cứu

Khu vực kinh tế tư nhân giữ vai trò động lực then chốt của nền kinh tế Việt Nam khi chiếm tới 96% tổng số doanh nghiệp vừa và nhỏ, đóng góp khoảng 30% GDP, 40% giá trị sản xuất công nghiệp và giải quyết việc làm cho 1,5 triệu lao động mỗi năm trong giai đoạn 2011 - 2015. Tại huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội, số lượng người nộp thuế là doanh nghiệp tư nhân đã tăng trưởng vượt bậc gấp 2,2 lần, từ 500 đơn vị năm 2011 lên 1.152 đơn vị vào năm 2015. Tuy nhiên, công tác thu thuế thu nhập doanh nghiệp từ khối này đang đối mặt với nhiều thách thức lớn. Mặc dù tổng số thu từ doanh nghiệp ngoài quốc doanh tăng từ 150.450 triệu đồng năm 2011 lên 267.309 triệu đồng năm 2015, nhưng tỷ trọng thuế thu nhập doanh nghiệp trong tổng số thu ngân sách từ khối doanh nghiệp tư nhân lại có xu hướng sụt giảm liên tục, từ 8,6% năm 2013 xuống còn 8,5% năm 2014 và chỉ đạt 8,4% năm 2015 tương đương 22.579 triệu đồng.

Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý thu thuế thu nhập doanh nghiệp, phân tích thực trạng công tác thu thuế đối với 1.152 doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn huyện Mê Linh giai đoạn 2011 - 2015, từ đó chỉ rõ các hành vi thất thu thuế phổ biến. Trên cơ sở đó, luận văn thiết lập hệ thống giải pháp toàn diện nhằm nâng cao hiệu lực quản lý, giảm thiểu tỷ lệ thất thu và tối ưu hóa nguồn thu cho ngân sách nhà nước tại địa phương trong giai đoạn tiếp theo.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết quản lý thuế hiện đại theo cơ chế người nộp thuế tự tính, tự khai, tự nộp và mô hình quản lý thuế theo chức năng kết hợp nhóm đối tượng. Thuế thu nhập doanh nghiệp là loại thuế trực thu đánh trực tiếp vào thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp với mức thuế suất phổ thông 20%, phụ thuộc hoàn toàn vào kết quả sản xuất kinh doanh và được xác định bằng thu nhập tính thuế trừ đi các khoản lỗ được kết chuyển theo quy định của Thông tư 78/2014/TT-BTC.

Khung đánh giá hiệu quả quản lý thu thuế thu nhập doanh nghiệp trong luận văn dựa trên hệ thống 4 chỉ tiêu cốt lõi: tỷ lệ số lượt người nộp thuế thực hiện nghĩa vụ trên tổng số đối tượng quản lý, tỷ lệ chi phí hành chính quản lý trên tổng số thuế thu được, tỷ trọng số thuế thu nhập doanh nghiệp đóng góp trong tổng thu ngân sách, và tỷ lệ nợ đọng thuế trên tổng số thuế ghi thu. Các khái niệm trọng tâm bao gồm quản lý người nộp thuế, quản lý căn cứ tính thuế gồm doanh thu tính thuế và chi phí được trừ hợp lý, công tác thanh tra, kiểm tra và cưỡng chế nợ thuế.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp duy vật biện chứng kết hợp các phương pháp định lượng và định tính như thống kê mô tả, phân tích tổng hợp số liệu thứ cấp giai đoạn 2011 - 2015 từ hệ thống cơ sở dữ liệu của Chi cục Thuế huyện Mê Linh và Cục Thuế thành phố Hà Nội. Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm toàn bộ tổng thể 1.152 doanh nghiệp tư nhân đăng ký hoạt động trên địa bàn huyện Mê Linh, kết hợp phương pháp chọn mẫu có chủ đích đối với 120 hồ sơ quyết toán thuế tại các đơn vị có rủi ro cao thuộc 4 nhóm ngành chính: thương mại chiếm 429 doanh nghiệp, xây dựng chiếm 375 doanh nghiệp, công nghiệp chế biến chiếm 236 doanh nghiệp và nông lâm thủy sản chiếm 112 doanh nghiệp.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích đối chiếu chuỗi thời gian và so sánh chuẩn đối sánh với mô hình quản lý áp dụng tiêu chuẩn ISO 9002 của Chi cục Thuế Quận Đống Đa là nhằm đảm bảo tính khách quan khoa học, bóc tách chính xác nguyên nhân dẫn đến chênh lệch giữa nghĩa vụ thuế thực tế và số liệu tự kê khai của doanh nghiệp trong điều kiện nguồn lực của bộ máy 68 cán bộ công chức thuế tại huyện Mê Linh còn nhiều hạn chế.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quy mô doanh nghiệp tư nhân phát triển nhanh về lượng nhưng thiếu bền vững. Số người nộp thuế được cấp mã số thuế tăng từ 820 đơn vị năm 2013 lên 1.152 đơn vị năm 2015, nhưng tỷ lệ doanh nghiệp ngừng hoạt động hoặc giải thể tăng mạnh từ 20,5% tương ứng 168 doanh nghiệp năm 2013 lên 24,8% tương ứng 285 doanh nghiệp năm 2015, tiềm ẩn rủi ro nợ thuế khó đòi và tình trạng doanh nghiệp ma lập ra để mua bán hóa đơn.

Thứ hai, tình trạng gian lận, giấu doanh thu diễn ra trên diện rộng và có giá trị lớn. Qua công tác thanh kiểm tra thực tế, cơ quan thuế phát hiện sai lệch doanh thu hàng tỷ đồng tại nhiều đơn vị: Công ty Trách nhiệm hữu hạn Xây dựng Thương mại và Tổng hợp Quang Minh giấu doanh thu 3.400 triệu đồng từ các công trình xây dựng đã thu tiền; Công ty Cổ phần HTMP Việt Nam kê khai thiếu 3.000 triệu đồng doanh thu; Công ty Xây dựng và Thương mại Mê Linh bỏ ngoài sổ sách 920 triệu đồng.

Thứ ba, sai phạm trong việc hạch toán khống chi phí được trừ rất phổ biến. Tại Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Mê Linh, chi phí khấu hao tài sản cố định bị loại trừ 921 triệu đồng do nhà làm việc hình thành từ vốn góp nhưng chưa chuyển quyền sở hữu. Công ty Trách nhiệm hữu hạn Khóa Huy Hoàng hạch toán sai chi phí nghỉ mát vào công tác phí 814 triệu đồng. Công ty Cổ phần Cửa sổ nhựa Châu Âu tự xây dựng định mức tiêu hao nguyên vật liệu cao hơn thực tế, dẫn tới bị truy thu 321 triệu đồng. Công ty Trách nhiệm hữu hạn Vận tải Tuấn Phát đưa các khoản chi tiêu cá nhân như tivi, tủ lạnh, bánh kẹo trị giá 42 triệu đồng vào chi phí bán hàng.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện cho thấy nguyên nhân khách quan xuất phát từ sự biến động của thị trường khiến doanh nghiệp gặp khó khăn về dòng vốn, dẫn đến xu hướng chiếm dụng tiền thuế của nhà nước để xoay vòng vốn kinh doanh. Thủ tục cấp đăng ký kinh doanh liên thông rút ngắn còn 2 đến 5 ngày tạo điều kiện cho các hành vi gian lận hóa đơn. Về mặt chủ quan, ý thức tuân thủ pháp luật thuế của chủ doanh nghiệp còn thấp, kết hợp với việc Chi cục Thuế huyện Mê Linh chỉ kiểm tra trực tiếp tại trụ sở được hơn 10% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động mỗi năm do thiếu hụt nhân sự.

Khi so sánh với kinh nghiệm quản lý của Chi cục Thuế Quận Đống Đa, nơi số thu thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2015 đạt 2.265 tỷ đồng chiếm hơn 50% tổng thu 4.520 tỷ đồng nhờ quy trình kiểm tra theo chuyên đề doanh thu trên 50 tỷ đồng và áp dụng chuẩn ISO 9002, công tác quản lý tại Mê Linh vẫn mang nặng tính địa bàn dàn trải. Trong thực tế nghiên cứu, các dữ liệu này được mô hình hóa trực quan qua bảng đối chiếu chênh lệch trước và sau thanh tra tại từng doanh nghiệp, kết hợp biểu đồ phân bổ cơ cấu ngành kinh tế để nhận diện rõ nét những khu vực có mức độ rủi ro thất thu cao nhất.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, tái cấu trúc quy trình quản lý người nộp thuế và cơ sở dữ liệu định danh. Đội Tổng hợp nghiệp vụ và Kê khai thuế cần phối hợp chặt chẽ với Phòng Đăng ký kinh doanh và Công an huyện Mê Linh để rà soát 100% doanh nghiệp mới thành lập và các đơn vị ngừng hoạt động, hoàn thành xác minh địa chỉ kinh doanh trong vòng 5 ngày làm việc nhằm loại bỏ triệt để các doanh nghiệp ma chuyên mua bán hóa đơn bất hợp pháp.

Thứ hai, chuẩn hóa công tác quản lý căn cứ tính thuế và kiểm soát chi phí. Cơ quan thuế cần chủ động xây dựng khung định mức tiêu hao nguyên vật liệu bình quân cho các ngành sản xuất mũi nhọn như sản xuất thép, gia công cơ khí, đồ mộc dân dụng và vật liệu xây dựng; phối hợp với hệ thống ngân hàng thương mại để kiểm soát 100% các giao dịch thanh toán không dùng tiền mặt có giá trị từ 20 triệu đồng trở lên, phấn đấu giảm tỷ lệ sai phạm về chi phí được trừ xuống dưới 15% trong giai đoạn 2016 - 2020.

Thứ ba, đổi mới phương thức thanh tra, kiểm tra từ dàn trải sang chuyên đề chuyên sâu. Chi cục Thuế huyện Mê Linh cần tập trung nguồn lực kiểm tra chuyên đề đối với 375 doanh nghiệp ngành xây dựng và các đơn vị có doanh thu lớn trên 50 tỷ đồng mỗi năm, ứng dụng phần mềm phân tích rủi ro tờ khai thuế để nâng tỷ lệ kiểm tra hồ sơ đạt hiệu quả truy thu lên trên 25% mỗi năm.

Thứ tư, nâng cao năng lực chuyên môn và thực hiện luân chuyển cán bộ định kỳ. Chi cục cần tổ chức đào tạo chuyên sâu về chuẩn mực kế toán và kỹ năng kiểm tra báo cáo tài chính cho 68 cán bộ công chức, duy trì tỷ lệ luân chuyển tối thiểu 20% cán bộ hàng năm theo đúng quy định của ngành thuế nhằm ngăn ngừa tiêu cực và nâng cao tính minh bạch trong thực thi công vụ.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, cán bộ lãnh đạo và công chức ngành Thuế tại các Chi cục Thuế cấp huyện: Luận văn cung cấp hệ thống chỉ tiêu đánh giá thực chứng và các bài học kinh nghiệm thực tiễn về kiểm tra chuyên đề, quản lý nợ đọng và xử lý vi phạm hóa đơn đối với khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh.

Thứ tư, các chuyên gia hoạch định chính sách thuế tại Bộ Tài chính và Tổng cục Thuế: Công trình phản ánh rõ nét khoảng cách giữa các quy định của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp với chuẩn mực kế toán doanh nghiệp trong việc ghi nhận doanh thu và chi phí hợp lý, làm cơ sở hoàn thiện các thông tư hướng dẫn.

Thứ ba, chủ doanh nghiệp, giám đốc tài chính và kế toán trưởng khối doanh nghiệp tư nhân: Tài liệu giúp nhận diện rõ các lỗi sai phạm thường gặp trong trích khấu hao tài sản cố định, định mức vật tư và chi phí tiền lương để chủ động phòng ngừa rủi ro bị truy thu, xử phạt vi phạm hành chính.

Thứ tư, giảng viên, học viên cao học và sinh viên các chuyên ngành Quản lý kinh tế, Tài chính công và Thuế: Đây là nguồn tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp luận nghiên cứu định lượng kết hợp định tính trong việc đánh giá hiệu quả quản lý thu ngân sách nhà nước cấp cơ sở.

Câu hỏi thường gặp

Doanh nghiệp tư nhân tại huyện Mê Linh thường sử dụng thủ đoạn nào để giấu doanh thu tính thuế? Doanh nghiệp thường trì hoãn xuất hóa đơn đối với các công trình xây dựng đã nghiệm thu và nhận tiền thanh toán, hoặc không xuất hóa đơn khi bán lẻ cho người tiêu dùng không có nhu cầu lấy chứng từ. Điển hình như Công ty Trách nhiệm hữu hạn Xây dựng Thương mại và Tổng hợp Quang Minh đã bỏ ngoài sổ sách 3.400 triệu đồng doanh thu công trình.

Tại sao số lượng doanh nghiệp thành lập mới tăng nhưng tỷ trọng thuế thu nhập doanh nghiệp lại giảm? Giai đoạn 2013 - 2015 chứng kiến số lượng doanh nghiệp tăng lên 1.152 đơn vị nhưng tỷ lệ doanh nghiệp ngừng hoạt động chiếm tới 24,8%. Bên cạnh đó, nhiều doanh nghiệp mới được hưởng ưu đãi miễn giảm thuế, cùng với khó khăn kinh tế làm giảm lợi nhuận chịu thuế khiến tỷ trọng đóng góp giảm từ 8,6% xuống 8,4%.

Sai phạm phổ biến nhất trong trích khấu hao tài sản cố định tại các doanh nghiệp tư nhân là gì? Sai phạm phổ biến nhất là trích khấu hao đối với tài sản góp vốn nhưng chưa hoàn tất thủ tục chuyển quyền sở hữu sang doanh nghiệp, hoặc trích khấu hao cho tài sản không phục vụ sản xuất kinh doanh. Trường hợp của Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Mê Linh bị loại trừ 921 triệu đồng chi phí là minh chứng điển hình.

Mô hình quản lý của Chi cục Thuế Quận Đống Đa có điểm gì nổi bật để Chi cục Thuế Mê Linh học tập? Chi cục Thuế Quận Đống Đa áp dụng thành công hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9002 và chuyển đổi phương thức thanh tra từ kiểm tra theo địa bàn dàn trải sang kiểm tra chuyên đề chuyên sâu cho các doanh nghiệp có doanh thu trên 50 tỷ đồng, giúp tỷ trọng thuế thu nhập doanh nghiệp đạt hơn 50% tổng thu ngân sách.

Cơ chế tự tính, tự khai, tự nộp thuế tạo ra thách thức gì cho cơ quan thuế cấp huyện? Cơ chế này trao quyền tự chủ tuyệt đối cho người nộp thuế nhưng lại dễ bị lợi dụng để kê khai sai lệch nếu thiếu ý thức tự giác. Trong khi đó, lực lượng cán bộ thuế mỏng khiến tỷ lệ thanh tra trực tiếp tại trụ sở chỉ đạt hơn 10% mỗi năm, tạo ra kẽ hở cho các hành vi gian lận.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về quản lý thu thuế thu nhập doanh nghiệp theo cơ chế tự khai, tự nộp đối với khối doanh nghiệp tư nhân tại địa bàn cấp huyện.
  • Đánh giá thực trạng quản lý 1.152 doanh nghiệp tại huyện Mê Linh giai đoạn 2011 - 2015, chỉ ra 4 nhóm sai phạm nghiêm trọng gồm giấu doanh thu, gian lận chi phí khấu hao, tự nâng định mức vật tư và nợ đọng thuế kéo dài.
  • Xác lập 4 nhóm giải pháp đột phá về tái cấu trúc bộ máy quản lý, kiểm soát dữ liệu hóa đơn, thanh tra chuyên đề rủi ro và luân chuyển cán bộ công chức thuế nhằm nâng cao hiệu lực thu ngân sách trong giai đoạn 2016 - 2020.
  • Cung cấp nguồn cứ liệu thực chứng có độ tin cậy cao, đóng góp thiết thực cho công tác hoạch định chính sách thuế và quản trị tài chính doanh nghiệp.
  • Để nâng cao tính tuân thủ pháp luật, các cơ quan thuế và cộng đồng doanh nghiệp cần tăng cường đối thoại, minh bạch hóa thủ tục hành chính, hướng tới xây dựng môi trường kinh doanh lành mạnh và phát triển nguồn thu bền vững cho ngân sách quốc gia.