Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH 1. Cơ sở lý luận về quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp với doanh nghiệp ngoài quốc doanh 1. Các khái niệm cơ bản 1. Thuế thu nhập doanh nghiệp a.
Khái niệm Thuế vừa là phạm trù kinh tế, vừa là phạm trù lịch sử. Thuế xuất hiện ban đầu có hình thức biểu hiện rất đơn giản, thu thuế được thực hiện từ hình thức thu bằng hiện vật dần chuyển sang thu dưới hình thức giá trị, nhất là khi tiền tệ ra đời. Các nhà kinh tế học đã có quá trình nghiên cứu sâu sắc ở nhiều khía cạnh khác nhau nhằm tìm khái niệm thuế theo cách đánh giá của mình. Các Mác viết: “Thuế là cơ sở kinh tế của bộ máy nhà nước, là thủ đoạn đơn giản để kho bạc thu được tiền hay tài sản của người dân để dùng vào việc chi tiêu của Nhà nước”.
Gaston Jeze trong cuốn: “Tài chính công” xuất bản năm 1998 từ Kessinger Publising, LLC cho rằng:“Thuế là một khoản trích nộp bằng tiền, có tính chất xác định, không hoàn trả trực tiếp cho công dân đóng góp cho Nhà nước thông qua con đường quyền lực nhằm bù đắp những chi phí của Nhà nước”. Đây là khái niệm được ra đời khá sớm và cũng rất nổi tiếng về thuế, có tính khái quát cao, được coi là cơ sở của các khái niệm sau này. Tuy nhiên, khái niệm này không phân định thuế được bù đắp vào công việc gì và trong nhiều trường hợp, thuế không chỉ để bù đắp chi tiêu mà còn dùng để phát triển kinh tế, xã hội. Đến nay, tuy chưa có một định nghĩa về Thuế thống nhất, nhưng các nhà kinh tế đều nhất trí cho rằng, để làm rõ được bản chất của Thuế thì định nghĩa về thuế phải đạt được các khía cạnh sau đây: 5 Nội dung kinh tế của Thuế được đặc trưng bởi các quan hệ tiền tệ giữa nhà nước với các pháp nhân và các thể nhân, không mang tính hoàn trả trực tiếp; Những mối quan hệ dưới dạng tiền tệ này được nảy sinh một cách khách quan và có ý nghĩa xã hội đặc biệt, việc chuyển giao thu nhập có tính chất bắt buộc theo mệnh lệnh của nhà nước; Các pháp nhân và thể nhân chỉ phải nộp cho Nhà nước các khoản thuế đã được pháp luật quy định; Và việc sử dụng tiền thuế phải dành cho mục đích chung.
Đặc điểm Thứ nhất, thuế TNDN là thuế trực thu, đối tượng nộp thuế cũng là đối tượng chịu thuế. Thứ hai, thuế TNDN phụ thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh. Điều này đồng nghĩa với việc, khi các DN hoạt động không có lãi sẽ không bị tính thuế TNDN. Thêm vào đó, các khoản lỗ sẽ được kết chuyển sang năm sau để tính vào thu nhập tính thuế.
Thứ ba, thuế TNDN gây phản ứng cho người nộp thuế. Với mức thuế suất lớn, theo quy định hiện hành tại Việt Nam trong năm 2020, thuế suất thuế TNDN là 20%; trường hợp đặc biệt đối với doanh hoạt động tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí tại Việt Nam thuế suất từ 32% đến 50%. Việc động viên mức thuế lớn vào ngân sách nhà nước, khiến cho các DN tìm đủ mọi cách để tối thiểu hóa số thuế TNDN phải nộp. Vai trò - Thuế đóng vai trò ổn định nguồn thu ngân sách Nhà Nước: Để huy động nguồn lực vật chất cho mình, Nhà nước có thể sử dụng nhiều hình thức khác nhau như: phát hành thêm tiền; phát hành trái phiếu để vay trong nước và ngoài nước; bán một phần tài sản quốc gia; thu thuế.
Trong các hình thức nêu trên thì thuế là công cụ chủ yếu và có vai trò quan trọng nhất. 6 - Thuế thu nhập DN thực hiện vai trò tái phân phối các nguồn tài chính và đảm bảo công bằng xã hội. Nhà nước sử dụng thuế thu nhập DN làm công cụ điều tiết thu nhập của các chủ thể có thu nhập cao, đảm bảo yêu cầu đóng góp của các chủ thể kinh doanh vào ngân sách Nhà nước được công bằng, hợp lý. Công cụ này được Nhà nước sử dụng để khắc phục hạn chế về sự khác biệt giữa các DN mạnh về lực lượng lao động và năng lực tài chính (doanh thu, lợi nhuận cao hơn) và các DN yếu về ưu thế tài chính hay lực lượng lao động (thu nhập thấp hơn).
- Thuế tham gia vào điều tiết kinh tế vĩ mô Nhà nước thực hiện quản lý, điều tiết vĩ mô nền kinh tế bằng nhiều biện pháp như giáo dục chính trị tư tưởng, hành chính, luật pháp và kinh tế, trong đó biện pháp kinh tế là gốc. Trong các biện pháp kinh tế thì thuế là công cụ quan trọng và sắc bén nhất. - Thuế TNDN yêu cầu thúc đẩy và thu hút đầu tư Đây là vai trò mới của thuế TNDN trong giai đoạn phát triển kinh tế mạnh mẽ như hiện nay. Đối với các nước muốn thu hút vốn đầu tư từ nước ngoài vào, yếu tố thuế TNDN được các nhà đầu tư quan tâm hơn cả.
Với mức thuế suất thấp hơn so với các nước trong khu vực, DNNN sẽ đầu tư vào nước có mức thuế suất thuế TNDN thấp để thu được lợi nhuận cao hơn. Bài toán mà DN luôn đặt ra đó là so sánh lợi nhuận luôn lớn hơn chi phí bỏ ra. Rõ ràng, xu hướng giảm mức thuế suất này đã và đang tác động tới tư duy đầu tư của nhà đầu tư, có tác dụng trong khuyến khích và thu hút môi trường đầu. Khái niệm Quản lý thuế là một lĩnh vực quản lý chuyên ngành.
Vì vậy, để tiếp cận khái niệm quản lý thuế, trước hết, cần tiếp cận khái niệm quản lý. Trong cuốn “Khoa học Tổ chức và Quản lý”, tác giả Đặng Quốc Bảo quan niệm: “Quản lý là một quá trình lập kế hoạch, tổ chức, hướng dẫn và 7 kiểm tra những nỗ lực của các thành viên trong một tổ chức và sử dụng các nguồn lực của tổ chức để đạt được những mục tiêu cụ thể”. Theo sách Những vấn đề cốt yếu của quản lý (2004) của nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật Hà Nội: "Quản lý là xây dựng và duy trì một môi trường tốt giúp con người hoàn thành một cách hiệu quả mục tiêu đã định". Theo giáo trình thuế thực hành (2001) của nhà xuất bản Thống kê: “Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc đối với các thể nhân và pháp nhân, được nhà nước quy định thông qua hệ thống pháp luật.
Sự ra đời của thuế gắn liền với sự phân chia xã hội thành các giai cấp đối kháng và sự xuất hiện của Nhà nước”. Từ việc tổng hợp, phân tích các khái niệm ta có thể khái quát về Quản lý thuế TNDN như sau: Quản lý thuế TNDN có thể được hiểu là các hoạt động của con người trong việc thực hiện các hoạt động về lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, phối hợp, kiểm soát và thực hiện các biện pháp cụ thể nhằm thực thi tốt nhất hệ thống chính sách thuế TNDN. Trong đó, chủ thể quản lý thuế TNDN là các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực thuế (cơ quan quản lý thuế). Đặc điểm So với các hoạt động quản lý khác, quản lý thuế TNDN có những đặc điểm cơ bản sau đây: - Quản lý thuế TNDN là quản lý bằng pháp luật đối với hoạt động nộp thuế TNDN.
Hoạt động quản lý của cơ quan thuế cũng như việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế của các tổ chức kinh tế đều phải dựa trên cơ sở các quy định của các luật thuế với đặc trưng có tính bắt buộc cao và được đảm bảo thực hiện bằng quyền lực Nhà nước. Qua đó, đảm bảo nguồn thu từ thuế TNDN vào Ngân sách nhà nước được tập trung đầy đủ, kịp thời nhằm đáp ứng cho nhu cầu chi tiêu của Nhà nước; đồng thời, đảm bảo sự điều tiết qua thuế đối với các tổ chức kinh tế được công bằng, bình đẳng. 8 - Quản lý thuế TNDN được thực hiện chủ yếu bằng phương pháp hành chính. Nội dung của phương pháp hành chính trong quản lý thuế TNDN là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh, là sự thiết lập mối quan hệ giữa con người, giữa cơ quan thuế với các tổ chức kinh tế trong xã hội; giữa cơ quan thuế các cấp với nhau và với các cơ quan Nhà nước, tổ chức khác.
Đồng thời phương pháp hành chính trong quản lý thuế còn thể hiện trong quy trình, thủ tục thu, nộp thuế - đó là trình tự các bước công việc phải tiến hành và các giấy tờ, tài liệu cần thiết ghi nhận việc thực hiện nghĩa vụ thuế của người nộp thuế. - Quản lý thuế TNDN là hoạt động mang tính kỹ thuật, nghiệp vụ chặt chẽ. Đặc điểm này thể hiện ở chỗ các thủ tục hành chính và các chứng từ kèm theo phục vụ cho quản lý thuế TNDN có quan hệ mật thiết với nhau, phụ thuộc nhau do các yêu cầu kỹ thuật của việc xác định số thuế phải nộp. Nguyên tắc Quản lý thuế TNDN được thực hiện bởi quyền lực Nhà nước, tuy nhiên không thể vì thế mà tiến hành tùy tiện, chỉ có lợi cho công chức và cơ quan thuế, gây phiền nhiễu cho người nộp thuế mà phải tuân theo những quy tắc nhất định.
Các nguyên tắc quản lý thuế TNDN bao gồm: - Tuân thủ pháp luật - Thống nhất, tập trung dân chủ trong quản lý thuế TNDN. - Công bằng trong quản lý thuế TNDN. - Minh bạch. - Thuận tiện, tiết kiệm.
Doanh nghiệp ngoài quốc doanh a. Khái niệm Khái niệm DN NQD hay khu vực kinh tế NQD được quy định cụ thể tại Luật DN Nhà nước số 68/2014/QH13 ngày ngày 26 tháng 11 năm 2014. Cụ thể: DN là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh. 9 Các DN NQD bao gồm: Công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, DN tư nhân, hợp tác xã.
DN NQD là hình thức DN không thuộc sở hữu của nhà nước, trừ khối hợp tác xã. Thông qua những khái niệm trên, có thể thấy rằng DN NQD là khái niệm được dùng để xác định các đơn vị DN không phải do Nhà nước lập ra, không phải là DN mà Nhà nước có tham gia cổ phần mà do các tư nhân thành lập, tổ chức hoạt động và quản lý tổ chức. Hiện nay, khu vực kinh tế NQD là các đơn vị chủ yếu đóng thuế TNDN cho Nhà Nước Việt Nam.