Chương 1: Những vấn đề cơ bản về công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân. Chương 2: Thực trạng công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân tại Chi cục thuế TP Thanh Hóa. Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân tại Chi cục thuế TP Thanh Hóa. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU Chƣơng 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN 1.
Khái quát về thuế thu nhập cá nhân 1. Khái niệm thuế thu nhập cá nhân Thu nhập cá nhân đươc hiểu là tổng số tiền, hàng hóa, dịch vụ mà một cá nhân nhận được trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm) [18] Thu nhập chịu thuế của cá nhân trong kỳ tính thuế là phần thu nhập còn lại sau khi đã giảm trừ các khoản chi phí liên quan để tạo tra thu nhập, các khoản giảm trừ mang tính chất xã hội và các khoản giảm trừ khác [18] Thuế Thu nhập cá nhân của Việt Nam dần được hoàn hiện theo thời gian. Từ năm 1991 đến trước năm 2009, để phù hợp hơn với tình hình thực tế, thuế TNCN ở Việt Nam được quy định dưới hình thức Thuế thu nhập với người có thu nhập cao. Từ 01/01/2009, Luật thuế TNCN chính thức có hiệu lực, đánh dấu bước phát triển quan trọng của sắc thuế này.
Theo đó, khái niệm thuế TNCN ở Việt Nam cũng dần được bổ sung đầy đủ hơn: Thuế thu nhập cá nhân là loại thuế trực thu đánh vào thu nhập thực nhận được của các cá nhân trong một kỳ tính thuế nhất định thường một năm, từng tháng hoặc từng lần, không phân biệt nguồn gốc phát sinh thu nhập. Tuy nhiên, TNCT không phải là mọi khoản thu nhập mà nó được quy định riêng trong chính sách thuế TNCN của mỗi quốc gia 1. Đặc điểm của thuế thu nhập cá nhân + Thuế thu nhập cá nhân là một hình thức động viên mang tính bắt buộc trên nguyên tắc theo luật định. Phân phối khoản thu nhập qua thuế thu nhập cá nhân gắn với quyền lực, sức mạnh của Nhà nước.
6 + Thuế thu nhập cá nhân là khoản đóng góp không hoàn trả trực tiếp cho người nộp. Nó vận động một chiều, không phải là khoản thù lao mà người nộp thuế phải trả cho Nhà nước do được hưởng các dịch vụ Nhà nước cung cấp. + Thuế thu nhập cá nhân luôn gắn với chính sách xã hội của mỗi quốc gia. Hầu hết các quốc gia đều gắn chính sách thuế thu nhập cá nhân với một số chính sách xã hội khác (như phúc lợi công cộng, chăm sóc sức khỏe.
+ Thuế thu nhập cá nhân là thuế trực thu. Do vậy, người nộp thuế cũng là người chịu thuế. + Thuế thu nhập cá nhân có diện thu thuế rất rộng, tất cả các cá nhân có thu nhập bao gồm: công dân nước sở tại và người nước ngoài cư trú thường xuyên hay không thường xuyên tại nước đó và hầu như tất cả số thu nhập có được của các cá nhân đều phải tính thuế không kể nguồn thu nhập phát sinh trong nước hay ngoài nước. Chính vì vậy, khả năng tạo nguồn thu cho ngân sách của thuế thu nhập cá nhân rất cao.
+ Việc đánh thuế thu nhập cá nhân thường áp dụng theo nguyên tắc thuế suất lũy tiến từng phần. + Khi tính toán thuế thu nhập cá nhân thì thường phải xét đến hoàn cảnh của mỗi cá nhân và luôn kết hợp với chính sách xã hội. + Thuế thu nhập cá nhân tăng hay giảm không ảnh hưởng đến cơ cấu kinh tế. Vai trò của thuế thu nhập cá nhân Thứ nhất, thuế TNCN là công cụ góp phần thực hiện công bằng xã hội, giảm bớt sự chênh lệch về thu nhập giữa những người có thu nhập cao và những người có thu nhập thấp trong xã hội.
Thuế TNCN luôn gắn với chính sách xã hội của một quốc gia. Mặc dù về quan điểm hoàn thiện chính sách thuế là cần phải xây dựng một chính sách thuế có tính trung lập, không nhằm nhiều mục tiêu khác nhau, nhưng trong 7 thực tế chưa có quốc gia nào tách rời hẳn chính sách thuế TNCN với một số chính sách xã hội. Sự công bằng được biểu thị bởi biểu thuế luỹ tiến từng phần, mức điều tiết về thuế tăng dần đều, người có thu nhập cao phải nộp thuế nhiều. Chính sách xã hội thể hiện thông qua cơ chế chiết trừ gia cảnh và một số khoản giảm trừ trước khi tính thuế.
Thứ hai, thuế TNCN là một công cụ đảm bảo nguồn thu quan trọng và ổn định cho Ngân sách Nhà nước Do có diện thu thuế rất rộng, nên Thuế TNCN có khả năng tạo nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước cao, nhất là ở những quốc gia có nền kinh tế phát triển. Thuế TNCN có độ co giãn theo thu nhập tương đối lớn nên cùng với sự phát triển của nền kinh tế, thu nhập của các tầng lớp dân cư cũng theo đó không ngừng tăng lên, nếu có chính sách động viên hợp lý, ổn định thì không cần phải thường xuyên thay đổi mà vẫn thu được một mức thu mong muốn. Thứ ba, thuế TNCN là công cụ kinh tế vĩ mô được Nhà nước sử dụng để điều tiết thu nhập, tiêu dùng và tiết kiệm. Thuế TNCN động viên trực tiếp vào thu nhập của cá nhân, thể hiện rõ nghĩa vụ của công dân đối với đất nước và được căn cứ trên các nguyên tắc "lợi ích", "công bằng" và "khả năng nộp thuế".
Việc áp dụng thuế TNCN sẽ góp phần đảm bảo tính hợp lý, công bằng, hiệu quả của hệ thống chính sách thuế và hạn chế sự gia tăng khoảng cách chênh lệch giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư, đồng thời Nhà nước sẽ nắm được thông tin về thu nhập của cá nhân. Thông qua đó, vừa thực hiện động viên nguồn lực vừa góp phần phòng chống tham nhũng, lãng phí. Thứ tư, thuế TNCN góp phần quản lý thu nhập dân cư. Thông qua việc kiểm tra, xác minh thu nhập tính thuế TNCN, cơ quan Nhà nước có thể phát hiện những khoản thu nhập hợp pháp, không hợp pháp để có những biện pháp xử lý phù hợp.
8 Như vậy, Thuế TNCN đóng vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của mỗi quốc gia. Tuy nhiên, vì công tác quản lý thuế TNCN còn nhiều hạn chế nên những vai trò này vẫn chưa thực sự được phát huy ở những nước chậm phát triển. Nội dung luật thuế thu nhập cá nhân 1. Người nộp thuế Một đặc điểm của thuế TNCN là đối tượng chịu thuế đồng thời là đối tượng nộp thuế.
Xác định NNT là một trong những nội dung quan trọng của thuế TNCN, từ đó mới có thể vận dụng cách tính thuế cho phù hợp. Thực tế thường dựa vào hai tiêu thức là “nơi cư trú” và “nguồn phát sinh thu nhập” để tiến hành xác định NNT. Luật thuế TNCN số 04/2007/QH12 quy định, đối tượng nộp thuế TNCN là cá nhân cư trú có thu nhập chịu thuế phát sinh trong và ngoài lãnh thổ Việt nam và cá nhân không cư trú có thu nhập chịu thuế phát sinh trong lãnh thổ Việt Nam. Cá nhân cư trú là cá nhân có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên tính trong một năm dương lịch hoặc tính theo 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam hoặc có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam, bao gồm có nơi ở đăng ký thường trú hoặc có nhà thuê để ở tại Việt Nam theo hợp đồng thuê có thời hạn [1] Ở nước ta, NNT là cá nhân cư trú có TNCT phát sinh trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam và cá nhân không cư trú có TNCT phát sinh trong lãnh thổ Việt Nam.
Theo đó, thì mọi cá nhân là người Việt Nam hay nước ngoài có TNCT đều thuộc diện nộp thuế TNCN. Thu nhập chịu thuế TNCT là một số khoản thu nhập nằm trong diện tính thuế TNCN theo quy định trong chính sách thuế TNCN của từng quốc gia. Việc quy định 9 khoản thu nhập nào phải tính thuế, khoản nào không phải tính thuế, mức độ cao hay thấp phụ thuộc vào quan điểm của mỗi chính phủ, vào mục tiêu điều tiết thu nhập cũng như các mục tiêu kinh tế, chính trị xã hội khác của mỗi quốc gia trong từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể. Để tính được thuế TNCN phải nộp trước tiên phải xác định được những khoản thu nhập nào là TNCT và tính toán thu nhập đó như thế nào.
Sau đó, căn cứ vào một số quy định khác trong chính sách thuế như các khoản miễn giảm, khấu trừ… cơ quan thuế xác định được thu nhập tính thuế, kết hợp với thuế suất sẽ xác định được thuế phải nộp. Nhiệm vụ của Ngành Thuế mỗi nước là phải xác định TNCT từ thu nhập sao cho NNT chấp nhận và để luật thuế có tính khả thi cao. Có như vậy mới đảm bảo được mục tiêu kinh tế, xã hội trong việc thu thuế TNCN. * Luật thuế TNCN ở nước ta quy định thu nhập chịu thuế TNCN bao gồm [1]: Thu nhập từ kinh doanh: Thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ (riêng đối với thu nhập từ hoạt động sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, làm muối, nuôi trồng, đánh bắt thủy sản chỉ áp dụng đối với trường hợp không đủ điều kiện được miễn thuế); thu nhập từ hoạt động hành nghề độc lập của cá nhân có giấy phép hoặc chứng chỉ hành nghề theo quy định của pháp luật.
Thu nhập từ tiền lương, tiền công: là các khoản thu nhập người lao động nhận được từ người sử dụng lao động dưới các hình thức bằng tiền hoặc không bằng tiền: Tiền lương, tiền công và các khoản có tính chất tiền lương, tiền công; các khoản phụ cấp, trợ cấp; tiền thù lao dưới các hình thức; tiền nhận được từ tham gia hiệp hội kinh doanh, hội đồng quản trị, ban kiểm soát, hội đồng quản lý và các tổ chức; các khoản lợi ích khác mà NNT nhận được bằng tiền hoặc không bằng tiền; tiền thưởng. Thu nhập từ đầu tư: lãi cổ phần, lãi cho vay, thu nhập từ đầu tư vốn dưới các hình thức khác. 10 Thu nhập khác: lãi từ chuyển nhượng tài sản (chuyển nhượng vốn, chuyển nhượng bất động sản), thu nhập từ trúng thưởng, thu nhập từ bản quyền, thu nhập từ nhượng quyền thương mại, thu nhập từ thừa kế, thu nhập từ quà tặng.