Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về công tác quản lý thuế SDĐPNN Chương 2: Thực trạng công tác quản lý thuế SDĐPNN tại cục thuế Tỉnh Thái Bình Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế SDĐPNN tại cục thuế tỉnh Thái Bình 6 CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ SỬ DỤNG ĐẤT PHI NÔNG NGHIỆP 1. Tổng quan về đất phi nông nghiệp 1. Khái niệm và phân loại đất phi nông nghiệp Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu vực dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá xã hội, an ninh và quốc phòng. Đất đai được phân thành nhiều loại khác nhau, tùy theo tiêu chí như: Phân theo nguồn gốc hình thành, phân theo mục đích sử dụng, phân theo nguồn gốc quản lý… Đất phi nông nghiệp là đất được phân loại theo mục đích sử dụng.
Theo đó, đất đai được phân thành 3 loại: (1) Đất nông nghiệp, (2) đất phi nông nghiệp và (3) đất chưa sử dụng. Có thể có những khái niệm khác nhau, nhưng hầu hết các khái niệm đều cho rằng, đất phi nông nghiệp là đất được sử dụng vào các mục đích phi nông nghiệp. Điều 10, Luật Đất đai 2013 có ghi: “Nhóm đất phi nông nghiệp bao gồm các loại đất sau đây: (a) Đất ở gồm đất ở tại nông thôn, đất ở tại đô thị; (b) Đất xây dựng trụ sở cơ quan; (c) Đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh; (d) Đất xây dựng công trình sự nghiệp gồm đất xây dựng trụ sở của tổ chức sự nghiệp; đất xây dựng cơ sở văn hóa, xã hội, y tế, giáo dục và đào tạo, thể dục thể thao, khoa học và công nghệ, ngoại giao và công trình sự nghiệp khác; (đ) Đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp gồm đất khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất; đất thương mại, dịch vụ; đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp; đất sử dụng cho hoạt động khoáng sản; đất sản xuất vật liệu xây dựng, làm đồ gốm; (e) Đất sử dụng vào mục đích công cộng gồm đất giao thông (gồm cảng hàng không, sân bay, cảng đường 7 thủy nội địa, cảng hàng hải, hệ thống đường sắt, hệ thống đường bộ và công trình giao thông khác); thủy lợi; đất có di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh; đất sinh hoạt cộng đồng, khu vui chơi, giải trí công cộng; đất công trình năng lượng; đất công trình bưu chính, viễn thông; đất chợ; đất bãi thải, xử lý chất thải và đất công trình công cộng khác; (g) Đất cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng; (h) Đất làm nghĩa trang, nghĩa địa, nhà tang lễ, nhà hỏa táng; (i) Đất sông, ngòi, kênh, rạch, suối và mặt nước chuyên dùng; (k) Đất phi nông nghiệp khác gồm đất làm nhà nghỉ, lán, trại cho người lao động trong cơ sở sản xuất; đất xây dựng kho và nhà để chứa nông sản, thuốc bảo vệ thực vật, phân bón, máy móc, công cụ phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và đất xây dựng công trình khác của người sử dụng đất không nhằm mục đích kinh doanh mà công trình đó không gắn liền với đất ở”. Vai trò của đất phi nông nghiệp Đất phi nông nghiệp có những vai trò sau: - Là nơi cư trú của con người.
Trên mặt đất, con người xây dựng nhà ở, thành phố, làng mạc, khu dân cư và sinh sống trên đó. - Là nơi con người xây dựng các công trình trên mặt đất, trong lòng đất để phục vụ cho cuộc sống của con người. Như: xây dựng khu quân sự, doanh trại quân đội, kho lương, đạn dược… sử dụng vào các mục đích quốc phòng, an ninh; xây dựng trụ sở cơ quan, tổ chức sự nghiệp để phục vụ mục đích quản lý hành chính; xây dựng các công trình giao thông, đường xá, trạm, bến để phục vụ nhu cầu đi lại; xây dựng nhà máy, xưởng sản xuất, khu công nghiệp để sử dụng vào sản xuất hàng hoá, cung cấp đồ dùng, vật dụng; xây dựng trung tâm thương mại, chợ, siêu thị để phục vụ hoạt động trao đổi hàng hoá, giao thương; xây dựng công viên, khu vui chơi, giải trí, khu luyện tập thể dục, thể thao để đáp ứng nhu cầu thư giãn, vui chơi, rèn luyện sức khoẻ; đất để xây dựng trường học, bệnh viện, nghĩa trang,… - Là nguồn tài nguyên khoáng sản quý giá đối với cho con người, cung cấp các loại quặng, than, kim loại và phi kim, đất để sản xuất vật liệu xây dựng (cát, sỏi, đá, gạch, làm đồ gốm)… 8 1. Thuế SDĐPNN 1.
Khái niệm, đặc điểm, vai trò thuế SDĐPNN 1. Khái niệm thuế SDĐPNN Theo Luật số 48/2010/QH12 của Quốc hội về luật thuế SDĐPNN: “Thuế SDĐPNN là loại thuế thu vào hành vi SDĐPNN gồm đất ở tại nông thôn, đất ở tại đô thị; đất xây dựng khu công nghiệp; đất làm mặt bằng xây dựng cơ sở sản xuất, kinh doanh; đất khai thác, chế biến khoáng sản; đất sản xuất vật liệu xây dựng, làm đồ gốm và các lại đất phi nông nghiệp khác sử dụng vào mục đích kinh doanh” Tên gọi đã diễn đạt đúng bản chất của thuế, là loại thuế đánh vào thu nhập thu từ tài nguyên đất. Là khoản thuế mà người nộp thuế phải nộp khi sử dụng đất ngoài mục đích làm nông nghiệp và các mục đích công cộng. Cụ thể thuế SDĐPNN đánh vào các đối tượng chịu thuế theo quy định của Luật thuế SDĐPNN bao gồm: - Một là, đất ở tại nông thôn, đất ở tại đô thị.
- Hai là, đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp bao gồm đất xây dựng khu công nghiệp; đất làm mặt bằng xây dựng cơ sở sản xuất, kinh doanh; đất khai thác, chế biến khoáng sản; đất sản xuất vật liệu xây dựng, làm đồ gốm. - Ba là, đất phi nông nghiệp được sử dụng vào mục đích kinh doanh. Đặc điểm của thuế SDĐPNN Thuế SDĐPNN là loại thuế thu hàng năm (bằng tiền hay hiện vật) mà tổ chức, cá nhân SDĐPNN bắt buộc phải nộp cho Nhà nước theo quy định của pháp luật. Cũng như các sắc thuế khác, thuế SDĐPNN có các đặc điểm chung của thuế và một số đặc điểm đặc thù như sau: - Nộp thuế SDĐPNN là nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân, hộ gia đình có quyền sử dụng hoặc trực tiếp SDĐPNN để ở, để xây dựng công trình, để sản xuất, kinh doanh; - Nộp thuế SDĐPNN là nghĩa vụ bắt buộc đối với tổ chức, cá nhân, hộ gia đình SDĐPNN.
Hành vi trốn thuế, gian lận thuế đều là hành vi vi phạm pháp luật và bị xử lý về hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; 9 - Tổ chức, cá nhân, hộ gia đình chỉ phải nộp thuế SDĐPNN đối với việc SDĐPNN mà thuộc đối tượng chịu thuế theo quy định của pháp luật; còn SDĐPNN nhưng đất đó không thuộc đối tượng chịu thuế thì tổ chức, cá nhân, hộ gia đình không phải nộp thuế SDĐPNN (như đất do cơ sở tôn giáo sử dụng, đất xây dựng cơ sở y tế, giáo dục, đất làm nghĩa trang, nghĩa địa,…); - Thuế SDĐPNN là một loại thuế trực thu, do các chủ thể có quyền sử dụng hoặc trực tiếp SDĐPNN phải nộp theo quy định pháp luật về thuế SDĐPNN; - Thuế SDĐPNN có tính chất động viên chủ thể có quyền sử dụng hoặc trực tiếp SDĐPNN có hiệu quả. Thông qua việc thu thuế đã khuyến khích chủ thể có quyền sử dụng đất phải sử dụng có hiệu quả bằng việc đầu tư sản xuất, kinh doanh, thúc đẩy phát triển kinh tế. - Thuế được thu hàng năm với mức thuế suất thấp, tính bằng tỷ lệ phần trăm (%) trên giá đất tính thuế của từng mảnh đất hoặc theo mức thu cố định cho mỗi đơn vị diện tích sử dụng, có phân biệt theo vị trí, mục đích sử dụng đất. Chủ thể SDĐPNN ở những vị trí có khả năng sinh lợi lớn, mang lại lợi nhuận cao cho người sử dụng thì phải đóng thuế cao hơn những chủ sử dụng đất ở những vị trí kém sinh lợi.
Vai trò của thuế SDĐPNN Thuế là công cụ chủ yếu để tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước và là công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước đối với nền kinh tế, ngoài ra thuế còn là công cụ điều hoà thu nhập, thực hiện công bằng xã hội và thực hiện kiểm tra, kiểm soát các hoạt động sản xuất, kinh doanh. Thuế SDĐPNN có những vai trò cơ bản sau: - Đóng góp vào nguồn thu ngân sách Nhà nước, góp phần đáp ứng các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước như xây dựng cơ sở hạ tầng, công trình công cộng, thực hiện chính sách an sinh xã hội, duy trì quân đội, bộ máy hành chính nhà nước… - Góp phần điều tiết cung cầu bất động sản và bình ổn giá cả thị trường bất động sản: Trên thực tế cho thấy, để tránh tình trạng đầu cơ bất động sản và tăng giá bất động sản để kiếm lời thì việc áp dụng chính sách thuế SDĐPNN là biện pháp tối 10 ưu. Bởi lẽ, nếu một chủ thể có quyền sử dụng một diện tích lớn đất phi nông nghiệp thì gần như người đó có quyền ấn định giá cả thị trường bất động sản trong vùng. Chính vì vậy, thuế SDĐPNN sẽ làm hạn chế việc đầu cơ quá nhiều đất đai, bởi với người tích trữ càng nhiều đất thì càng phải đóng nhiều thuế và nếu đất đó khó có thể sinh lợi như đầu tư vào lĩnh vực khác thì chủ thể có quyền sử dụng đất sẽ không đầu cơ đất (vì phải đóng thuế) và chuyển sang đầu tư vào lĩnh vực khác có khả năng sinh lợi cao hơn, nhanh hơn.
- Góp phần tăng cường quản lý Nhà nước đối với việc sử dụng bất động sản: Việc đánh thuế SDĐPNN cũng là một cách điều tiết thu nhập, tránh tình trạng một người có quyền sử dụng nhiều đất nhưng không sử dụng hoặc sử dụng không hiệu quả. - Góp phần chống tham nhũng: Cùng với các đạo luật khác, thuế SDĐPNN góp phần làm minh bạch tài sản của người dân, làm cho Nhà nước có thể quản lý được đất đai, nhà cửa của cán bộ công chức, tránh được các giao dịch bất động sản “ngầm” (tặng cho, đưa hối lộ bằng quyền sử dụng đất ở những địa điểm đẹp. Pháp luật về thuế SDĐPNN quy định mức thuế mà chủ sử dụng đất phải nộp hàng năm, nếu không nộp thì phải chịu chế tài hành chính hoặc hình sự. - Giúp nhà nước kiểm soát hoạt động kinh doanh bất động sản, đảm bảo thị trường bất động sản phát triển lành mạnh.