Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THUẾ HỘ KINH DOANH 1. Những vấn đề chung về thuế đối với hộ kinh doanh 1. Khái niệm, bản chất và chức năng của thuế 1. Khái niệm về thuế Như chúng ta đã biết, thuế luôn gắn liền với sự tồn tại, phát triển của Nhà nước và nền kinh tế sản xuất hàng hóa là công cụ quan trọng mà bất kỳ quốc gia nào cũng sử dụng để thực thi chức năng, nhiệm vụ của mình.
Tùy thuộc vào bản chất của nhà nước và cách thức nhà nước sử dụng, đã có nhiều quan điểm về thuế khác nhau đưa ra: Theo Mác viết: “Thuế là cơ sở kinh tế của bộ máy Nhà nước, là thủ đoạn đơn giản để kho bạc thu được tiền hay tài sản của người dân để dùng vào việc chi tiêu của Nhà nước”[6]. Theo Ang-ghen cũng đã viết: “Để duy trì quyền lực công cộng, cần phải có đóng góp của công dân cho Nhà nước, đó là thuế má”[6]. Nhà kinh tế học David Racardo: “Thuế được cấu thành từ phần của chính phủ lấy trong sản phẩm đất đai và lao động trong nước và xét cho cùng thì thuế được lấy từ tư bản hay thu nhập của người chịu thuế”[6]. Adam Smith cho rằng: “Các công dân của mỗi nước phải đóng góp cho chính phủ theo tỷ lệ khả năng của mỗi người, nghĩa là tỷ lệ với lợi tức mà họ được hưởng do sự bảo vệ của nhà nước”[6].
Có nhiều quan điểm khác nhau về thuế, tựu trung lại, có thể tổng quát: “Thuế là một khoản chuyển giao thu nhập bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho Nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định, nhằm sử dụng cho mục đích công cộng”[6]. Bản chất của thuế Thuế luôn luôn gắn chặt với sự ra đời và phát triển của Nhà nước. Bản chất của Nhà nước quy định bản chất của thuế. Về mặt lý luận, bản chất của 7 Nhà nước vốn mang tính giai cấp.
Không có một Nhà nước phi giai cấp mà chỉ có Nhà nước của giai cấp nào mà thôi. Trong chế độ phong kiến, hệ thống thuế khoá nhằm huy động sự đóng góp tiền bạc của dân chúng để nuôi dưỡng quân đội, tổ chức bộ máy công quyền, quan lại để cai trị trong cả nước. Người dân được hưởng rất ít các phúc lợi công cộng từ phía Nhà nước. Đến khi giai cấp tư sản nắm được chính quyền, giai đoạn đầu họ chủ trương xây Nhà nước tự do, không can thiệp vào hoạt động kinh tế của các lực lượng kinh tế thị trường.
Nhà nước chỉ đảm nhận nhiệm vụ giữ gìn an ninh, quốc phòng. Thuế khóa chỉ đóng vai trò huy động nguồn lực tài chính tối thiểu để nuôi sống bộ máy Nhà nước và đáp ứng nhu cầu chi tiêu công cộng khác. Nhưng khi bước vào những năm 1929 - 1933 của thế kỷ XX, nền kinh tế của các nước tư bản lâm vào khủng hoảng. Để đưa nền kinh tế thoát khỏi khủng hoảng, Nhà nước tư sản phải can thiệp vào hoạt động kinh tế bằng cách lập ra các chương trình đầu tư lớn và thực hiện tái phân phối thu nhập xã hội thông qua các công cụ tài chính.
Trong số các công cụ trên thì thuế là công cụ quan trọng và sắc bén để Nhà nước thực hiện điều chỉnh nền kinh tế. Đặc điểm của thuế Thuế là khoản thu mang tính bắt buộc: Tính bắt buộc là thuộc tính cơ bản vốn có của thuế để phân biệt giữa thuế với các hình thức động viên tài chính khác của ngân sách nhà nước. Tính bắt buộc của thuế thể hiện nghĩa vụ đóng góp của mọi công dân đối với lợi ích công cộng của toàn xã hội. Nhà kinh tế học nổi tiếng Gaston Jeze cho rằng: “Thuế là một khoản trích nộp bằng tiền, có tính chất xác định, không hoàn trả trực tiếp do các công dân đóng góp cho Nhà nước thông qua con đường quyền lực nhằm bù đắp chi tiêu của Nhà nước”[3].
Thuế là khoản đóng góp bắt buộc mà mỗi tổ chức, cá nhân phải có nghĩa vụ đóng góp cho Nhà nước theo Luật định để đáp ứng nhu cầu chi tiêu 8 cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước, người đóng thuế được hưởng hợp pháp phần thu nhập còn lại. Thuế là khoản thu của ngân sách nhà nước mang tính không hoàn trả trực tiếp và không đối giá. Số tiền thuế phải nộp không gắn trực tiếp với lợi ích cụ thể mà người nộp thuế được hưởng từ hàng hóa công cộng do nhà nước cung cấp. Các cá nhân, tổ chức thực hiện nghĩa vụ nộp thuế cho nhà nước không có quyền đòi hỏi nhà nước phải cung cấp trực tiếp cho họ một lượng hàng hóa dịch vụ cụ thể nào đó.
Thuế là khoản thu mang tính pháp lý cao: Điều này được quyết định bởi quyền lực chính trị của nhà nước. Nhà nước là một tổ chức chính trị, đại diện cho quyền lợi của giai cấp thống trị, thi hành các chính sách do giai cấp thống trị đặt ra để cai trị xã hội. Vì vậy, để bắt buộc các công dân “tự nguyện” nộp thuế thì nhà nước phải sử dụng đến quyền lực của mình, quyền lực ấy được thể hiện bằng pháp luật. Thuế chịu ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế, chính trị và xã hội trong những thời kỳ nhất định: Yếu tố kinh tế tác động đến thuế thường là mức độ tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân, thu nhập bình quân đầu người, giá cả, thị trường, sự biến động của ngân sách nhà nước.
Chức năng của thuế Lịch sử phát triển của thuế đã chứng minh rằng, thuế phải thực hiện được 3 chức năng cơ bản, đó là: “chức năng bảo đảm nguồn thu cho NSNN nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước; chức năng phân phối lại thu nhập và tài sản nhằm đảm bảo công bằng xã hội và chức năng điều tiết vĩ mô nền kinh tế”[3]. Một là, chức năng đảm bảo nguồn thu cho NSNN Mức độ động viên các nguồn thu từ thuế vào ngân sách phần lớn, gắn liền với tổng số chi tiêu của của Nhà nước vì các khoản thu này là nguồn bù đắp chủ yếu cho các khoản chi ngân sách. Nhưng các khoản thu này cũng 9 không phải là nguồn bù đắp duy nhất mà bên cạnh đó, thâm hụt ngân sách còn được bù đắp bằng nguồn vay hoặc phát hành tiền tệ. Mức độ động viên thu ngân sách với tỷ lệ giữa thâm hụt ngân sách trên tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của mỗi nước cho thấy mức độ huy động của Nhà nước để bù đắp cho các khoản chi này (tất nhiên kể cả khoản lãi phải trả khi hoàn trả nợ).
Hai là, chức năng phân phối lại nhằm đảm bảo công bằng xã hội Về nguyên tắc, phải được phân chia một cách công bằng; thuế phải có vai trò sửa chữa những khiếm khuyết của sự phân phối lần đầu để đảm bảo sự công bằng và bình đẳng. Tuy nhiên, sự công bằng chỉ mang tính chất tương đối và tuỳ thuộc vào quan niệm cho rằng sự phân phối phải công bằng hay không trong việc phân chia quyền sở hữu diễn ra trên thị trường. Vì vậy, đánh thuế luỹ tiến, đối với một số người, có thể được coi như đồng nghĩa với sự công bằng, với một số người khác, lại bị coi là tuỳ tiện. Ba là, chức năng điều tiết vĩ mô nền kinh tế hay khắc phục những bất cân bằng của thị trường Thuế là một công cụ của chính sách kinh tế có thể đóng vai trò khuyến khích, hạn chế hoặc ổn định kinh tế.
Thuế có thể được sử dụng để khắc phục những bất cân bằng của thị trường. Cách tiếp cận kinh tế vĩ mô thuộc quan niệm của Keynes về chính sách kinh tế, thuế là một biến số mà Nhà nước sử dụng nhằm ổn định tình huống (chính sách tác động trên nhu cầu tổng thể) hoặc cơ cấu (chính sách thuế nhằm tạo thuận lợi cho sự tăng trưởng kinh tế). Khả năng của thuế trong việc thực hiện các mục tiêu hiệu quả kinh tế. Khái niệm, vai trò và đặc điểm của hộ kinh doanh 1.
Khái niệm hộ kinh doanh Tại Điều 66 Nghị định 78/2015/NĐ-CP hướng dẫn về thủ tục đăng ký kinh doanh của Luật doanh nghiệp 2014 quy định như sau: 10 “1. Hộ kinh doanh do một cá nhân hoặc một nhóm người gồm các cá nhân là công dân Việt Nam đủ 18 tuổi, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng kýkinh doanh tại một địa điểm, sử dụng dưới mười lao động và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh. Hộ gia đình sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, làm muối và những người bán hàng rong, quà vặt, buôn chuyến, kinh doanh lưu động, làm dịch vụ có thu nhập thấp không phải đăng ký, trừ trường hợp kinh doanh các ngành, nghề có điều kiện, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định mức thu nhập thấp áp dụng trên phạm vi địa phương. Hộ kinh doanh có sử dụng từ mười lao động trở lên phải đăng ký thành lập doanh nghiệp theo quy định”[5].
Từ định nghĩa trên có thể thấy rõ những ưu, nhược điểm của HKD. - Ưu điểm của hộ kinh doanh: + Thủ tục thành lập khá đơn giản, chỉ cần nộp đủ các giấy tờ theo quy + Quy mô gọn nhẹ, phù hợp với cá nhân kinh doanh nhỏ lẻ; + Chế độ chứng từ sổ sách kế toán đơn giản; + Không phải kê khai thuế hàng tháng, áp dụng chế độ thuế khoán - Nhược điểm của hộ kinh doanh: + Chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm mà không được mở thêm chi nhánh hay văn phòng đại diện tại địa điểm khác; + Chỉ được sử dụng tối đa 09 lao động, nếu thường xuyên sử dụng từ 10 lao động trở lên mà không thành lập doanh nghiệp thì bị phạt tiền từ 3 đến 5 triệu đồng (Điều 41 Nghị định 50/2016/NĐ-CP). + Không có tư cách pháp nhân, không có con dấu. + Chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của chủ hộ đối với mọi hoạt động kinh doanh; 11 + Không được khai, tính thuế GTGT theo phương phương pháp khấu trừ nên không được hoàn thuế, không xuất được hóa đơn GTGT (khoản 4 Điều 1 Luật Thuế giá trị gia tăng 2008, sửa đổi bổ sung 2013); + Tính chất hoạt động kinh doanh nhỏ lẻ có thể sẽ ít tạo được lòng tin cho khách hàng trong những lần đầu hợp tác.
Vai trò của hộ kinh doanh Hộ kinh doanh góp phần tạo việc làm, sử dụng số lượng lao động lớn, góp phần tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo.