Chương I Thông tư này là cá nhân cư trú bao gồm cá nhân, nhóm cá nhân và hộ gia đình có hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ thuộc tất cả các lĩnh vực, ngành nghề sản xuất, kinh doanh theo quy định của pháp luật (sau đây gọi là cá nhân kinh doanh)” 1.2 Vai trò quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể 1.1 Vai trò của thuế Thứ nhất, thuế là công cụ được nhà nước sử dụng để tạo nguồn thu nhập. Tại nhiều quốc gia hiện nay, thuế là nguồn thu chính của các chính phủ. Trên 80% nguồn thu ngân sách của Việt Nam là đến từ thu thuế. Thứ hai, thuế là công cụ được nhà nước sử dụng để quản lý vĩ mô nền kinh tế.
Chính sách thuế (tax policy) được sử dụng thông qua việc khuyến khích (giảm thuế) và hạn chế (tăng thuế). 10 Thứ ba, thuế được sử dụng như là công cụ để Nhà nước phân phối lại thu nhập, nhằm đảm bảo công bằng xã hội. Trong sự vận hành của nền kinh tế thị trường, việc phân hóa giàu nghèo là tất yếu, do đó, chính sách thuế có thể được sử dụng để giảm chênh lệch giàu nghèo. Chẳng hạn đánh thuế cao đối với người thu nhập cao, hoặc giảm thuế (trợ cấp) cho người thu nhập thấp hoặc không có thu nhập.2 Vai trò của hộ kinh doanh cá thể Hộ kinh doanh là thành phần kinh tế không thể thiếu trong nền kinh tế, có vai trò quan trọng cung cấp hàng hóa dịch vụ cho xã hội, sự phát triển của hộ kinh doanh góp phần làm tăng thu cho NSNN.
Hộ kinh doanh còn thu hút một lực lượng lao động lớn, giải quyết được công ăn việc làm cho nhiều lao động, tạo thu nhập và từng bước góp phần nâng cao đời sống của tầng lớp dân cư; tận dụng được các nguồn lực vốn lớn, là động lực khai thác tiềm năng, tài nguyên đất đai đưa vào sản xuất, kinh doanh làm tăng sản phẩm cho xã hội, thúc đẩy sản xuất phát triển. Sự phát triển của hộ kinh doanh đã góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động ở nông thôn. Đặc điểm quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể 1. Đặc điểm của thuế Thuế có những thuộc tính tương đối ổn định qua từng giai đoạn phát triển và biểu hiện thành những đặc trưng riêng của nó, qua đó giúp chúng ta phân biệt thuế với các công cụ khác.
Gồm những đặc trưng sau: Thứ nhất, thuế do quốc hội ban hành, là một biện pháp tài chính mang tính bắt buộc, tính cưỡng chế, tính pháp lý của chính phủ. Thứ hai, thuế mang tính kinh tế xã hội vì nó được xác lập trên nền tảng kinh tế- xã hội của người làm nhiệm vụ đóng thuế. Thứ ba, thuế không mang tính hoàn trả trực tiếp cho người nộp thuế. Việc hoàn trả sẽ được thực hiện thông qua phúc lợi xã hội (social welfare) do nhà nước cung cấp cho cộng đồng.
Chẳng hạn như Chính phủ dùng thuế để xây dựng cơ sở hạ tầng cho người dân sử dụng. Đặc điểm của hộ kinh doanh cá thể Thứ nhất, đặc điểm về sở hữu vốn, tài sản. Hộ kinh doanh cá thể (HKDCT) thực chất là hộ gia đình thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh dựa vào vốn, tài sản và sức lao động của những thành viên trong gia đình. Khác với doanh nghiệp, theo luật doanh nghiệp (2014) thì chủ hộ kinh doanh phải chịu chịu trách nhiệm vô hạn về các hoạt động sản xuất kinh doanh của mình và được tự do quyết định cách phân chia lợi nhuận sau khi đã nộp đủ thuế cho cơ quan nhà nước.
Thứ hai, về năng lực quản lý kinh doanh. So với các thành phần kinh tế khác như công ty cổ phần hay công ty trách nhiệm hữu hạn, đa số chủ HKDCT đều có năng lực quản lý và trình độ chuyên môn thấp. Ngoài ra, quy mô hoạt động của HKDCT chỉ ở mức độ quy mô sản xuất kinh doanh nhỏ và lẻ. Các thống kê tại Việt Nam cho thấy, phần lớn các chủ HKDCT chưa được đào tạo một cách bài bản về các nghiệp vụ chuyên môn và nghiệp vụ quản lý kinh doanh.
Vì vậy, hiệu quả sản xuất kinh doanh của HKDCT còn thấp. Hầu hết các HKDCT hoạt động ở lĩnh vực buôn bán nhỏ, mua đi bán lại để kiếm chênh lệch. Số lượng nhỏ HKDCT hoạt động ở lĩnh vực sản xuất, nhưng thì trình độ công nghệ rất thấp, năng lực quản lý thấp, nên năng suất lao động thấp hơn nhiều so với các loại hình doanh nghiệp khác, chất lượng sản phẩm sản xuất không cao. Thứ ba, số lượng và loại hình.
Cuối năm 2020, số lượng HKDCT tại Việt Nam rất lớn, hoạt động SXKD ở tất cả mọi lĩnh vực, ngành nghề của nền kinh tế: Vận tải, chế biến, giáo dục, buôn bán nhỏ, làm đồ gốm. Ngoài ra, một bộ phận nhỏ HKDCT mang tính chất chuyên nghiệp cao vì hoạt động sản xuất kinh doanh lâu năm. Bên cạnh đó, còn một bộ phận cán bộ-công chức công nhân, người lao động về hưu cũng tham gia kinh doanh để tạo thêm thu nhập, cải thiện thêm đời sống hàng ngày. Tuy nhiên, do đặc thù quy mô nhỏ gọn, nên HKDCT rất dễ thay đổi phương thức hoạt động, thay đổi chủ HKD, dễ di chuyển địa bàn kinh doanh, nên gây không ít khó khăn cho hoạt động quản lý thuế.
Thứ tư, về ý thức tuân thủ pháp luật: Xuất phát từ trình độ còn hạn chế nêu trên nên phần lớn chủ HKDCT có trình độ nhận thức về pháp luật nói chung và pháp luật về thuế nói riêng rất thấp. 12 Về nguyên tắc khi tiến hành SXKD, cơ sở SXKD phải tự nghiên cứu tìm hiểu rõ các quy định của pháp luật liên quan đến hoạt động SXKD (như ngành nghề kinh doanh), nghĩa vụ thuế phải hoàn thành đối với cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, các HKDCT thì thường tiến hành SXKD trước, sau đó thực hiện các nghĩa vụ thuế cho Chính phủ. Ngoài ra, nhiều chủ HKDCT dù có cao am hiểu về pháp luật một cách tương đối, nhưng vẫn không chủ động thực hiện các quy định của nhà nhà nước về chế độ kế toán: thu-chi, ghi chép sổ sách.
Điều này cũng gây nhiều khó khăn cho công tác quản lý thuế. Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể Các nghiên cứu ở Việt Nam và trên thế giới đã cho thấy các nhân tố tác động đến việc tuân thủ thuế của HKDCT như sau: 1. Cơ chế chính sách của Nhà nước Hệ thống chính sách thuế, pháp luật thuế: Chính sách thuế là tổng hợp các văn bản thể hiện chủ trương của Đảng và pháp luật của nhà nước về lĩnh vực pháp luật thuế. Chính sách thuế ổn định, phù hợp minh bạch, rõ ràng, đơn giản, dễ hiểu, dễ thực hiện là tiền đề để NNT tuân thủ luật thuế; góp phần giảm chi phí cho công tác QLT của cơ quan thuế và tuân thủ thuế của người nộp thuế, đồng thời làm giảm rủi ro do tham nhũng và giảm sự phiền hà cho người nộp thuế.
Chính sách thuế không phù hợp thường xuyên thay đổi thì không chỉ gây khó khăn cho người nộp thuế trong việc tiếp cận chính sách tuân thủ pháp luật mà còn gây khó khăn cho cơ quan thuế trong công tác tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế và thực thi nhiệm vụ. Nếu chính sách thuế mở rộng ưu đãi cho người nộp thuế thì sẽ gây khó khăn cho cơ quan thuế trong việc đảm bảo nguồn thu cho NSNN. - Sự phối hợp giữa CQT, Uỷ Ban nhân dân các cấp (governmental authorities), Hội đồng tư vấn thuế (tax advisory bodies) và các cơ quan ban ngành tại địa phương (local authorities). Đặc điểm nội bộ cơ quan quản lý thuế Tổ chức bộ máy: Tổ chức bộ máy quản lý thu thuế hợp lý sao cho đạt hiệu quả 13 Bộ máy quản lý thuế là tổng thể các cơ quan (bộ phận) có quan hệ hữu cơ với nhau trên cơ sở các chức năng nhiệm vụ và quan hệ công tác được quy định để tổ chức điều hành quá trình thực thi các luật thuế trong từng thời kỳ.
Tổ chức bộ máy quản lý thuế là một khâu quan trọng, bao gồm việc xác định cơ cấu tổ chức bộ máy các cấp nhằm đảm bảo tính thống nhất, khoa học; thực hiện đầy đủ, có hiệu quả chức năng, nhiệm vụ quản lý thuế. Hiện nay chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức bộ máy của các Chi cục Thuế được thực hiện theo quyết định số 503/QĐ-TCT ngày 29/03/2010 của Tổng cục Thuế. Đối với các Chi cục Thuế thực hiện thu thuế hàng năm dưới 300 tỷ đồng trừ thu từ dầu thô và tiền thu về đất, cơ cấu bộ máy gồm Lãnh đạo Chi cục Thuế và các Đội: Đội Tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế; Đội Kê khai kế toán thuế và tin học; Một số Đội Kiểm tra thuế; Đội Quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế; Đội Tổng hợp nghiệp vụ dự toán và pháp chế; Đội Hành chính Nhân sự- Tài vụ- Ấn chỉ; Đội Trước bạ - thu khác và Thu nhập cá nhân; Một số Đội thuế LXP thị trấn. Chức năng nhiệm vụ của các Đội thuế theo quy định tại Quyết định 504/QĐ-TCT ngày 29/03/2010 của Tổng cục Thuế.
Căn cứ quy định mô hình tổ chức bộ máy, chức năng nhiệm vụ của các Đội và tình hình nhiệm vụ quản lý thuế của từng Chi cục Thuế, Cục Trưởng Cục Thuế xem xét quyết định cụ thể số lượng các Đội thuế kiểm tra, Đội thuế LXP Thị trấn hoặc ghép các bộ phận công tác giữa các Đội cho phù hợp đảm bảo hoàn thành tốt nhiệm vụ quản lý thuế được giao. Đội ngũ cán bộ: Để quản lý thuế có hiệu quả đòi hỏi cán bộ thuế phải có trình độ chuyên môn cao, có kỹ năng, kinh nghiệm và đạo đức nghề nghiệp sẽ tác động trực tiếp đến hiệu quả của công tác quản lý thuế. Quy chế làm việc (cơ chế vận hành) tại mỗi đơn vị cũng ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả công tác. Nếu quy chế làm việc hợp lý thì sẽ nâng cao hiệu quả của công tác quản lý thuế.
Điều kiện vật chất: Đây cũng là một trong những nội dung trong chương trình cải cách hệ thống Thuế. Cơ sở vật chất tốt, một môi trường làm việc hiện đại, chuyên nghiệp sẽ tạo điều kiện cho cán bộ công chức thuế thực hiện nhiệm vụ của mình được tốt hơn. Nhân tố thuộc về người nộp thuế Quy mô, và mức độ tập trung của HKDCT: Vì quy mô SXKD thường nhỏ lẻ, và mang đặc điểm của một hộ gia đình, cho nên hoạt động quản lý thuế cần được tổ chức sao cho phù hợp và hiệu quả.