Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý thuế đối với hộ kinh doanh các thể. Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Thực trạng công tác quản lý thuế đối với hộ kinh doanh các thể tại Chi cục Thuế thành phố Bắc Ninh. Chương 4: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm tăng cường công tác quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể tại Chi cục Thuế thành phố Bắc Ninh. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn c 4 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THUẾ HỘ KINH DOANH CÁ THỂ 1.
Cơ sở lý luận về quản lý thuế hộ kinh doanh cá thể 1. Những vấn đề chung về thuế 1. Khái niệm về thuế Cho đến nay, trong giới các học giả và trên các sách báo kinh tế thế giới vẫn chưa có quan điểm thống nhất về khái niệm thuế, bởi lẽ giác độ nghiên cứu có nhiều khác biệt. Nhìn chung, các nhà kinh tế khi đưa ra khái niệm về thuế mới chỉ nhìn nhận từ những khía cạnh khác nhau của thuế mà mình muốn khai thác hoặc tìm hiểu, chưa phản ánh đầy đủ bản chất chung của phạm trù thuế.
Chẳng hạn theo quan niệm của Ph.Ăngghen: "Để duy trì quyền lực công cộng, cần phải có những sự đóng góp của những người công dân của Nhà nước đó là Thuế khoá. Với quan điểm này, thuế chỉ là sự đóng góp của công dân để duy trì quyền lực Nhà nước. Cũng từ luận điểm này, Mác phát triển thêm rằng trong một Nhà nước có giai cấp (một giai cấp giành được quyền thống trị) thì thuế thực ra là khoản đóng góp bắt buộc để duy trì quyền lực của giai cấp đó. Khi những giai cấp không phải là giai cấp cai trị, nghĩ rằng việc bắt buộc nộp thuế chỉ dùng để bảo vệ quyền lợi cho giai cấp cai trị, thì họ sẽ không coi thuế là nghĩa vụ công dân và sẽ bằng nhiều cách để tránh thuế và trốn thuế.
Quan điểm này đã hỗ trợ rất nhiều cho các nhà kinh tế có quan điểm xã hội trong việc củng cố lập trường đấu tranh giai cấp (Tổng cục Thuế, 2011). Bên cạnh đó, cũng có những quan điểm khác nhau về thuế. Trong cuốn từ điển kinh tế của hai tác giả người Anh Chrisopher Pass and Bryan Lowes, đứng trên giác độ đối tượng chịu thuế đã cho rằng: Thuế là một biện pháp của Chính phủ đánh trên thu nhập của cải và vốn nhận được của các cá nhân hay Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn c 5 doanh nghiệp, trên việc chi tiêu về hàng hóa và dịch vụ và trên tài sản (Tổng cục Thuế, 2011). Một khái niệm khác về thuế tương đối hoàn thiện được nêu trong cuốn "Economics" của hai nhà kinh tế Mỹ Makkollhell and Bruy-M (1993), dựa trên cơ sở đối giá như sau: "Thuế là một khoản chuyển giao bắt buộc bằng tiền (hoặc bằng hàng hóa, dịch vụ) của các công ty hoặc các hộ gia đình cho chính phủ, mà trong sự trao đổi đó họ không nhận được trực tiếp hàng hóa, dịch vụ nào cả, khoản tiền đó không phải là tiền phạt mà tòa án tuyên phạt do hành vi vi phạm pháp luật".
Trong quan điểm này người ta chỉ nhìn nhận thuế trên giác độ các đối tượng nộp thuế và đối tượng chịu thuế, không nói đến việc sử dụng tiền thuế để làm gì, chỉ thể hiện việc đánh thuế như là một nghĩa vụ công dân của các doanh nghiệp và hộ gia đình với đất nước mình đang kinh doanh hoặc sinh sống. Các quan điểm này cũng chỉ phù hợp với giai đoạn phát triển của thuế trong thời đoạn lịch sử nhất định (Tổng cục Thuế, 2011). Trên giác độ phân phối thu nhập định nghĩa: Thuế là hình thức phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân nhằm hình thành các quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà nước (Tổng cục Thuế, 2011). Trên giác độ người nộp thuế thì : Thuế được coi là khoản đóng góp bắt buộc mà mỗi tổ chức, cá nhân phải có nghĩa vụ đóng góp cho Nhà nước theo luật định để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước (Tổng cục Thuế, 2011).
Dựa vào định nghĩa và các yêu cầu nêu trên, có thể đưa ra một khái niệm về thuế như sau: Thuế là một khoản nộp bằng tiền mà các thể nhân và pháp nhân có nghĩa vụ bắt buộc phải thực hiện theo luật đối với Nhà nước; Không mang tính chất đối khoản, không hoàn trả trực tiếp cho người nộp thuế và dùng để trang trải cho các nhu cầu chi tiêu công cộng (Tổng cục Thuế, 2011). Đặc điểm của thuế Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn c 6 Qua phân tích nguồn gốc sự ra đời của thuế và khái niệm chung về thuế nêu trên, có thể khẳng định rằng: Thuế là một công cụ tài chính của Nhà nước, được sử dụng để hình thành nên quỹ tiền tệ tập trung, nhằm sử dụng cho mục đích công cộng. Tuy nhiên, thuế khác với các công cụ tài chính khác như: Phí, lệ phí, tiền phạt, giá cả. Điều này thể hiện qua các đặc điểm cơ bản của thuế trong nền kinh tế thị trường như sau: - Thuế là một khoản trích nộp bằng tiền.
Theo phương thức đánh thuế trong nền kinh tế thị trường, về nguyên tắc thuế là một khoản trích nộp dưới hình thức tiền tệ, khác với hình thức nộp thuế bằng hiện vật đã tồn tại từ thời xa xưa hoặc khác với chế độ giao nộp sản phẩm trong nền kinh tế phi thị trường. - Luôn gắn liền với quyền lực Nhà nước. Thuế là nghĩa vụ cơ bản của công dân đã được quy định trong hiến pháp - Đạo luật gốc của một quốc gia. Mặt khác, tính quyền lực Nhà nước cũng thể hiện ở chỗ Nhà nước không thực hiện thu thuế một cách tùy tiện mà phải dựa trên những cơ sở pháp luật nhất định đã được xác định trong các văn bản pháp luật do các cơ quan quyền lực Nhà nước ban hành.
Theo quan điểm này công dân không có quyền từ chối trả Thuế, cũng không có quyền tự ấn định hay thỏa thuận mức đóng góp của mình mà chỉ có quyền chấp hành. Đây là đặc trưng cơ bản nhất của thuế nhằm phân biệt với tất cả các hình thức động viên tài chính cho NSNN. - Luôn gắn liền với thu nhập. Nhà nước thực hiện thu thuế thông qua quá trình phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân, mà kết quả của nó là một bộ phận thu nhập của người nộp thuế được chuyển giao bắt buộc cho Nhà nước mà không kèm theo bất kỳ một sự cấp phát hoặc những quyền lợi nào khác cho người nộp thuế.
- Không hoàn trả trực tiếp và được sử dụng để đáp ứng chi tiêu công cộng. + Sự chuyển giao thu nhập thông qua thuế không mang tính chất đối giá. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn c 7 Về mặt pháp lý thuế không phải là giá cả của dịch vụ cung cấp. Vì vậy người nộp thuế không thể phản đối việc thực hiện nghĩa vụ thuế bằng cách viện cớ là Nhà nước sử dụng tiền thuế không có hiệu quả.
Họ cũng không thể đòi hỏi số tiền thuế do họ nộp phải phân bổ cho dịch vụ công này hay hoạt động khác. + Các khoản thuế đã nộp cho Nhà nước sẽ không được dùng phục vụ trực tiếp cho người nộp thuế. Người nộp thuế không có quyền đòi hỏi Nhà nước cung cấp hàng hóa, dịch vụ công cộng trực tiếp cho mình thì mới nộp thuế cho Nhà nước. Người nộp thuế sẽ nhận được một phần các hàng hóa, dịch vụ công cộng mà Nhà nước đã cung cấp cho cả cộng đồng, phần giá trị mà người nộp thuế được hưởng không nhất thiết phải tương đồng với khoản thuế mà họ nộp cho Nhà nước (Tổng cục Thuế, 2011).
Vai trò của thuế trong nền kinh tế thị trường Các nhà kinh tế học thường đề cập vai trò của thuế đối với ngân sách Nhà nước và đời sống xã hội. Bởi vì trên thực tế, thông qua các hoạt động thu thuế Nhà nước tập trung được các của cải xã hội từ đó hình thành nên quỹ ngân sách Nhà nước và thực hện các chính sách kinh tế xã hội. - Thuế là nguồn thu chủ yếu của NSNN Với chức năng phân phối lại thu nhập quốc dân, thuế bằng nhiều cách hình thành nên nguồn tài chính tập trung lớn nhất phục vụ cho chi tiêu công cộng đó là NSNN. NSNN được tập hợp từ nhiều nguồn thu khác nhau, trong tất cả các nguồn thông thường số thu từ thuế chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng số thu NSNN.
Đây là nguồn thu ổn định nhất được kế hoạch hóa tốt trên cơ sở dự báo kế hoạch và tiềm năng phát triển kinh tế của đất nước trong mỗi năm. - Thuế là công cụ điều hòa thu nhập, thực hiện công bằng xã hội. Một trong những khiếm khuyết của nền kinh tế thị trường là có sự chênh lệch lớn về mức sống, về thu nhập giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội. Kinh tế thị trường càng phát triển thì sự phân hóa giàu - nghèo giữa các Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn c 8 tầng lớp dân cư ngày càng có xu hướng gia tăng.
Sự phát triển mọi mặt của một đất nước là thành quả của sự nỗ lực của cả cộng đồng, mỗi thành viên trong xã hội đều có những đóng góp nhất định. Nếu không chia sẻ thành quả phát triển kinh tế cho mọi thành viên sẽ thiếu công bằng và tạo nên sự đối lập về quyền lợi và của cải giữa các tầng lớp dân cư gây ra bất ổn xã hội. Chính vì vậy Nhà nước phải can thiệp vào quá trình phân phối thu nhập, của cải xã hội và thuế là công cụ quan trọng mà Nhà nước sử dụng để tác động trực tiếp vào quá trình này. - Thuế là công cụ để thực hiện kiểm tra, kiểm soát các hoạt động sản xuất kinh doanh, đảm bảo thực hiện tốt quản lý nhà nước đối với mọi mặt của đời sống kinh tế, xã hội.