CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ QUẢN LÝ THUẾ GTGT 1.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của thuế GTGT 1.1 Khái niệm thuế GTGT Thuế GTGT là một loại thuế gián thu, được đánh vào người tiêu dùng cuối cùng, mặc dù chủ thể nộp thuế GTGT cho cơ quan QLT của Nhà nước là những người bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ. Hiện nay, khi đưa ra khái niệm thuế GTGT thì có nhiều cách tiếp cận khác nhau, mỗi khái niệm đưa ra đều được nhìn nhận trên một góc độ, một khía cạnh nào đó của thuế GTGT. ”Thuế GTGT là loại thuế gián thu dựa trên giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng” (Lê Quang Cường và Nguyễn Kim Quyến, 2013, trang 106) Như vậy, Thuế GTGT chỉ đánh trên phần giá trị mới được tạo ra trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ. Vấn đề đặt ra là phải xác định được giá trị tăng thêm ở từng giai đoạn của quá trình từ sản xuất, kinh doanh đến tiêu dùng, có như vậy mới tính được chính xác số thuế GTGT của từng giai đoạn.
Giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ được xác định bằng chênh lệch giữa tổng giá trị bán ra với tổng giá trị mua vào tương ứng trong kỳ tính thuế: Số thuế GTGT = (Tổng giá trị hàng hóa dịch vụ bán ra – Tổng giá trị hàng hóa dịch vụ mua vào tương ứng) x Thuế suất thuế GTGT của hàng hóa dịch vụ đó. Có thể thấy rằng, thuế GTGT là một loại thuế gián thu, được đánh vào hành vi tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ. Nhưng về bản chất, thuế GTGT khác với các loại thuế gián thu khác, điều đó thể hiện rõ thông qua các đặc điểm của thuế GTGT.2 Đặc điểm của thuế GTGT + Thuế GTGT là thuế gián thu gắn liền với hoạt động tiêu dùng các hàng hóa dịch vụ, thuế đánh vào các đối tượng tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Vì vậy, thuế GTGT là một loại thuế tiêu dùng, và đối với cơ sở sản xuất kinh doanh thì đây là thuế gián thu, là một trong các yếu tố cấu thành nên giá cả hàng hóa dịch vụ, là khoản thu được cộng thêm vào giá bán của người cung cấp, hay nói cách khác giá cả hàng hóa dịch vụ mà người tiêu dùng phải trả đã bao gồm cả thuế GTGT (Lê Quang Cường và Nguyễn Kim Quyến, 2013) Tính gián thu của thuế GTGT được biểu hiện qua việc người mua hàng hóa dịch vụ là người phải trả khoản thuế này thông qua giá thanh toán của hàng hóa dịch vụ.
Nghĩa là người mua hàng không trực tiếp nộp thuế GTGT vào ngân sách nhà nước mà trả thuế thông qua giá thanh toán của hàng hóa dịch vụ cho người bán, giá thanh toán này đã bao gồm cả khoản thuế GTGT mà người mua phải trả. Người bán chỉ thực hiện nộp khoản thuế GTGT này (khoản thuế đã được người mua trả) vào ngân sách nhà nước. + Thuế GTGT chỉ đánh vào giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh ở các giai đoạn từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng. Tổng số thuế GTGT thu được ở tất cả các giai đoạn sẽ bằng số thuế GTGT tính trên giá bán của hàng hóa, dịch vụ đó cho người tiêu dùng cuối cùng (Lê Quang Cường và Nguyễn Kim Quyến, 2013).
Như vậy, về nguyên tắc, chúng ta chỉ cần thu thuế ở khâu bán hàng cuối cùng. Nhưng trên thực tế, rất khó để xác định được đâu mới là khâu bán hàng cuối cùng, đâu là khâu bán hàng trung gian. Do đó, thuế phải được tính ngay khi có hành vi mua bán. Số thuế GTGT ở khâu trước được chuyển vào giá bán hàng ở khâu sau, người phải trả toàn bộ số thuế GTGT đánh trên hàng hóa đó là người tiêu dùng cuối cùng.
Với tổng số thuế phải trả bằng tổng số thuế phát sinh của từng giai đoạn trong suốt quá trình từ sản xuất, kinh doanh đến tiêu dùng của hàng hóa, dịch vụ đó. + Thuế GTGT là thuế có tính trung lập cao. Thể hiện cụ thể ở hai khía cạnh sau: Thứ nhất, thuế GTGT không chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi kết quả kinh doanh của người nộp thuế, bởi vì người nộp thuế chỉ là người nộp hộ khoản thuế này cho LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 người tiêu dùng vào ngân sách nhà nước. Do đó, thuế GTGT là một khoản thu, được cộng thêm vào giá bán, chứ không phải là chi phí sản xuất kinh doanh của người cung cấp hàng hóa, dịch vụ.
Thứ hai, thuế GTGT không bị ảnh hưởng bởi quá trình tổ chức và quá trình sản xuất kinh doanh, bởi tổng số thuế tính trên giá bán ở giai đoạn cuối cùng luôn bằng tổng số thuế ở tất cả các giai đoạn, bất kể số giai đoạn nhiều hay ít (Lê Quang Cường và Nguyễn Kim Quyến, 2013). + Thuế GTGT có tính lãnh thổ, đối tượng chịu thuế là người tiêu dùng trong phạm vi lãnh thổ quốc gia, không đánh thuế GTGT đối với hành vi tiêu dùng ở ngoài lãnh thổ. Thông qua việc không thu thuế đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu và đánh thuế đối với hàng hóa, dịch vụ nhập khẩu, tạo ra sự công bằng trong các giao dịch quốc tế (Lê Quang Cường và Nguyễn Kim Quyến, 2013) 1.3 Vai trò của thuế GTGT Trong nền kinh tế hiện đại ngoài vai trò là công cụ thu ngân sách, thuế còn là công cụ rất quan trọng để Nhà nước thực hiện chức năng quản lý, điều tiết vĩ mô đối với nền kinh tế. Thông qua thuế nhà nước thực hiện hướng dẫn, điều tiết các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng, thực hiện chính sách phân phối và phân phối lại, điều tiết thu nhập, giải quyết công bằng xã hội… Ngoài các vai trò nói chung của thuế, thuế GTGT còn có một số vai trò riêng, tác động đến các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội.
Được khái quát thành ba vai trò cơ bản: Thứ nhất, thuế GTGT là nguồn thu quan trọng của Ngân sách Nhà nước. Thuế GTGT là thuế gián thu và được áp dụng cho tất cả các tổ chức, cá nhân có tiêu dùng hàng hóa dịch vụ, mang lại nguồn thu lớn và tương đối ổn định cho ngân sách nhà nước. Thuế GTGT tập trung thu ngay từ khâu đầu (sản xuất hoặc nhập khẩu), được tính và thu vào ở tất cả các khâu của quá trình sản xuất, kinh doanh nên đảm bảo nguồn huy động kịp thời, tăng thu cho ngân sách Nhà nước, hạn chế thất thu. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Thứ hai, thuế GTGT là công cụ điều tiết vĩ mô và vi mô nền kinh tế.
Thuế GTGT điều tiết sản xuất và tiêu dùng. Luật thuế GTGT đã quy định cụ thể những hàng hóa thuộc diện đánh thuế hay không đánh thuế, đánh thuế với thuế suất bao nhiêu, cao hay thấp, từ đó đã ảnh hưởng tới việc lựa chọn hàng hoá, dịch vụ để sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng, tác động tới mối quan hệ giữa cung và cầu trên thị trường, góp phần thực hiện điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Thuế GTGT khuyến khích hoạt động đầu tư mở rộng sản xuất (Lê Quang Cường và Nguyễn Kim Quyến, 2013). Khi thực hiện mua sắm tài sản cố định, Nhà nước sẽ cho DN khấu trừ toàn bộ số thuế GTGT mà doanh nghiệp đã trả hoặc cho hoàn lại.
Đối với máy móc thiết bị, vật tư sử dụng trực tiếp cho hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ thuộc loại trong nước chưa sản xuất được, cần nhập khẩu để tạo tài sản cố định thì doanh nghiệp cũng không phải nộp thuế GTGT. Đồng thời việc thuế GTGT không đánh vào vốn đầu tư đã giúp doanh nghiệp giảm bớt khó khăn về vốn trong giai đoạn đầu tư xây dựng ban đầu. Do đó, thuế GTGT đã góp phần khuyến khích đầu tư đổi mới công nghệ, hiện đại hóa, chuyên môn hóa sản xuất để hạ giá thành sản phẩm. Trong thời gian qua, pháp luật về thuế đã được sửa đổi, bổ sung để phù hợp với điều kiện thực tế, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư phát triển sản xuất, trong đó chú trọng thu hút đầu tư vào một số lĩnh vực cần khuyến khích đầu tư, địa bàn khuyến khích đầu tư (địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, khu kinh tế, khu công nghệ cao).
Thuế đã quy định ưu đãi ở mức cao nhất đối với lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp nhằm khuyến khích và tạo thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực này nhằm tháo gỡ khó khăn cho đời sống của người dân. Luật thuế GTGT số 13/2008/QH12 quy định sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thuỷ sản nuôi trồng, đánh bắt chưa qua chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường của tổ chức, cá nhân tự sản xuất, đánh bắt bán ra và ở khâu nhập khẩu thuộc diện không chịu thuế GTGT; Sản phẩm nông nghiệp chưa qua chế LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 biến ở khâu kinh doanh thương mại trừ gỗ và măng hưởng mức thuế suất ưu đãi 5% (mức thuế suất thông thường là 10%). Thuế GTGT khuyến khích xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu, góp phần bảo hộ sản xuất trong nước (Lê Quang Cường và Nguyễn Kim Quyến, 2013). Hàng hóa dịch vụ xuất khẩu không những không phải nộp thuế GTGT mà còn được khấu trừ hoặc hoàn lại số thuế GTGT đầu vào, nên có tác dụng giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm.
Từ đó, tạo điều kiện thuận lợi cho hàng xuất khẩu có thể cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Thuế GTGT góp phần điều tiết thu nhập, thực hiện công bằng xã hội trong phân phối (Lê Quang Cường và Nguyễn Kim Quyến, 2013). Đối với các loại hàng hóa, dịch vụ cao cấp, những hàng hóa mà chỉ có người có thu nhập cao mới có khả năng sử dụng hoặc sử dụng nhiều hơn thì nhà nước áp dụng mức thuế suất cao để điều tiết thu nhập của họ, đồng thời tăng mức đóng góp cho xã hội. Còn đối với các hàng hóa thông thường hoặc hàng hóa có tính chất thiết yếu mà mọi người dân đều sử dụng trong đó có cả người nghèo thì nhà nước áp dụng mức thuế suất thấp hơn.
Thuế GTGT thúc đẩy các doanh nghiệp thực hiện chế độ hạch toán, kế toán, phát triển quan hệ thanh toán (Lê Quang Cường và Nguyễn Kim Quyến, 2013).