CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THU THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP XÂY DỰNG CƠ BẢN 1. Cơ sở lý luận về quản lý thu thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp xây dựng cơ bản 1. Khái quát chung về doanh nghiệp xây dựng cơ bản 1.
Khái niệm Luật Doanh nghiệp Việt Nam được Quốc hội thông qua năm 2014 đã đưa ra khái niệm về doanh nghiệp khá đầy đủ và chặt chẽ “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh”. Theo định nghĩa của Viện Thống kê và Nghiên cứu kinh tế: “doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế mà chức năng chính của nó là sản xuất của cải và dịch vụ để bán”. Theo khái niệm chung nhất, “doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân, chủ yếu thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh, trao đổi sản phẩm, hàng hoá trên thị trường theo nguyên tắc tối đa lợi ích giữa các bên để đạt được mục đích của mình”. (Từ điển tiếng việt, 1998) “Doanh nghiệp xây dựng cơ bản cũng là một tổ chức kinh tế, có tư cách pháp nhân kinh doanh các sản phẩm đặc biệt, thời gian sản xuất dài trên thị trường xây dựng để đạt được mục đích tối đa hoá lợi nhuận”.
Vai trò của các doanh nghiệp xây dựngcơ bản đối với nền kinh tế Theo Nguyễn Văn Ký, Lã Thị Ngọc Diệp vai trò của các doanh nghiệp đối với nền kinh tế như sau: “Ngày nay, sản xuất càng phát triển, phân công lao động xã hội ngày càng sâu sắc thì vị trí, vai trò của ngành xây dựng trong nền kinh tế quốc dân ngày càng được khẳng định.Các doanh nghiệp xây dựng cơ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn c 5 bản cũng phát triển để đáp ứng nhu cầu của xã hội. Khi nền kinh tế chưa phát triển, các doanh nghiệp xây dựng với số lượng lao động ít, trình độ thấp, trang thiết bị kỹ thuật thô sơ, chủ yếu xây dựng thủ công. Ngày nay với số lượng lao động dồi dào, trình độ tay nghề cao, trang thiết bị máy móc hiện đại, sử dụng các phương pháp thi công tiên tiến, áp dụng các thành tựu khoa học vào xây dựng các công trình”. Phân loại doanh nghiệp xây dựng cơ bản Hiện nay, có nhiều tiêu chí phân loại doanh nghiệp XDCB khác nhau, có thể kể đến như: - Theo quyền sở hữu đối với vốn của doanh nghiệp “Theo tiêu thức này, doanh nghiệp xây dựng cơ bản gồm các loại hình doanh nghiệp gồm có:Doanh nghiệp xây dựng Nhà nước, vốn kinh doanh do Nhà nước cấp; Doanh nghiệp xây dựng tư nhân, vốn kinh doanh của chủ tư nhâ; Công ty xây dựng cổ phần, vốn kinh doanh của các cổ đông; Công ty trách nhiệm hữu hạn về xây dựng, vốn kinh doanh của các thành viên thành lập doanh nghiệp và Công ty liên doanh về xây dựng, vốn kinh doanh do các bên tham gia liên doanh đóng góp.” (Ngô Kim Thanh, 2012) - Theo quy mô sản xuất kinh doanh: “Theo tiêu thức này, các doanh nghiệp xây dựng cơ bản được phân thành 3 loại là Doanh nghiệp xây dựng có quy mô lớn: Các Tổng công ty xây dựng, Các Tập đoàn xây dựng; Doanh nghiệp xây dựng có quy mô vừa: Các công ty xây dựng…; Doanh nghiệp xây dựng có quy mô nhỏ: Các doanh nghiệp xây dựng tư nhân, các công ty trách nhiệm hữu hạn về xây dựng.Quy mô của doanh nghiệp xây dựng thường được đánh giá thông qua vốn đầu tư, tình hình trang bị TSCĐ và số lượng lao động cho doanh nghiệp.” (Ngô Kim Thanh, 2012) -Theo cấp quản lý đối với doanh nghiệp: “Doanh nghiệp xây dựng cơ bản được phân thành 2 loại như sau:Doanh Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn c 6 nghiệp xây dựng trung ương và Doanh nghiệp xây dựng địa phương.Ngoài ra còn có một số tiêu chí phân loại khác như phân theo quy mô doanh nghiệp, phân theo tính chất hoạt động.
Việc phân loại trên chỉ mang tính chất tương đối, khái quát, trong thực tế các doanh nghiệp xây dựng hoạt động kinh doanh mang tính chất tổng hợp, đa ngành hoặc có sự đan xen nhau nhiều chủ sở hữu về vốn tạo lập doanh nghiệp. Quản lý thu thuế giá trị gia tăng 1. Lý luận chung về thuế a. Khái niệm thuế Đứng trên các góc độ khác nhau theo các quan điểm của các nhà kinh tế khác nhau thì có các định nghĩa về thuế khác nhau: Nhà kinh tế học Gaston Jeze trong cuốn “ Tài chính công” đưa ra một định nghĩa tương đối cổ điển về thuế: “Thuế là một khoản trích nộp bằng tiền, có tính chất xác định, không hoàn trả trực tiếp do các công dân đóng góp cho nhà nước thông qua con đường quyền lực nhằm bù đắp những chi tiêu của nhà nước”.
Theo từ điển tiếng Việt (1998), “thuế là khoản tiền hay hiện vật mà người dân hoặc các tổ chức kinh doanh, tùy theo tài sản, thu nhập, nghề nghiệp. buộc phải nộp cho Nhà nước theo mức qui định”. Theo Nguyễn Thị Liên (2009): “Thuế là khoản đóng góp bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho Nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật qui định nhằm sử dụng cho mục đích công cộng”. Tuy nhiên, có thể thấy các khái niệm trên đều thống nhất: thuế là khoản nộp bắt buộc vào ngân sách nhà nước để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu của nhà nước.
Đặc điểm của thuế Theo Lê Quang Cường (2009), thuế có các đặc điểm sau: “Thứ nhất, thuế là khoản thu nộp bắt buộc vào ngân sách nhà nước. Vai Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn c 7 trò của thuế là tạo nguồn tài chính cho ngân sách nhà nước, khoản thuế mà cơ quan thuế thu được từ người nộp thuế sẽ được đưa vào quỹ ngân sách nhà nước để chi trả thực hiện chức năng của nhà nước. Tính bắt buộc của thuế thể hiện ở chỗ, đối với người nộp thuế thì buộc phải chuyển giao một phần tài sản của mình để thực hiện nghĩa vụ nộp thuế với nhà nước, nếu không thực hiện thì sẽ bị áp dụng những biện pháp cưỡng chế cần thiết. Còn đối với cơ quan thu thuế thì tính bắt buộc thể hiện ở chỗ, cơ quan thu thuế buộc phải thực hiện việc thu thuế đối với mọi tổ chức cá nhân có nghĩa vụ là như nhau mà không được có sự ưu tiên với bất kì người nộp thuế nào.
Thứ hai, thuế gắn với quyền lực nhà nước. Để thuế phát huy vai trò của mình đối với xã hội thì nhà nước đã pháp luật hóa thuế thành hệ thống pháp luật, từ đó buộc mọi cá nhân phải tuân thủ. Chỉ găn với yếu tổ quyền lực thì thuế mới đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ tạo nguồn tài chính cho ngân sách nhà nước. Thứ ba, thuế không mang tính đối giá, không hoàn trả trực tiếp.Không như phí và lệ phí chỉ được nộp khi đối tượng nộp đã nhận được một lợi ích ngay từ phía nhà nước thì thuế là khoản bắt buộc mà người nộp thuế phải nộp cho nhà nước khi có những điều kiệ nhất định.
Khi nộp thuế người nộp sẽ không được nhận lại một số tiền tương đương với khoản thuế đã nộp mà chỉ nhận được những lợi ích không thể xác định dưới dạng vật chất như: yên bình xã hội, sự phát triển kinh tế… đó là tính không hoàn trả trực tiếp của thuế. Số tiền thuế phải nộp không phụ thuộc vào mức độ hưởng lợi ích của người nộp thuế. Vai trò của thuế Theo Nguyễn Thị Liên (2011) thì thuế có các vai trò sau: “Thứ nhất, Thuế là nguồn thu chủ yếu của Ngân sách Nhà nước”. “Một nền tài chính quốc gia lành mạnh phải dựa chủ yếu vào nguồn thu từ nội bộ nền kinh tế quốc dân.
Trong điều kiện kinh tế thị trường, xuất phát từ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn c 8 phạm vi hoạt động và đòi hỏi nhu cầu chi tiêu của Nhà nước ngày càng tăng, mà nguồn thu chủ yếu của thuế là từ thu nhập quốc dân sản xuất, khả năng động viên của thuế phụ thuộc vào sự phát triển, trình độ, hiệu quả sản xuất và ý thức tiết kiệm trong sản xuất và tiêu dùng của doanh nghiệp và người dân, vì vậy chính sách động viên thuế phải khuyến kích doanh nghiệp phát triển bền vững ngày càng mạnh, tạo điều kiện thuận lợi cho các cá nhân và tổ chức nước ngoài đầu tư vào sản xuất kinh doanh.” (Nguyễn Thị Liên, 2011) Thứ hai, Thuế là công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước đối với nền kinh tế và đời sống xã hội. “Chính sách thuế được đặt ra không chỉ nhằm mang lại số thu đơn thuần cho ngân sách mà yêu cầu cao hơn là qua thu góp phần thực hiện chức năng kiểm kê, kiểm soát, quản lý, hướng dẫn và khuyến khích phát triển sản xuất, mở rộng lưu thông đối với tất cả các thành phần kinh tế theo hướng phát triển của kế hoạch nhà nước, góp phần tích cực vào việc điều chỉnh các mặt mất cân đối lớn trong nền kinh tế quốc dân.” (Nguyễn Thị Liên, 2011) Thứ ba, Thuế thực hiện vai trò tái phân phối các nguồn tài chính, góp phần đảm bảo công bằng xã hội. “Kinh tế thị trường làm tăng sự phân hoá giàu nghèo, sự phân hoá này có những khi bất hợp lý và làm giảm tính hiệu quả kinh tế xã hội. Do vậy, cần phải có những biện pháp phân phối lại của cải xã hội nhằm hạn chế sự phân hoá này, làm lành mạnh xã hội.” (Nguyễn Thị Liên, 2011) Thứ tư, Thuế góp phần bảo hộ sản xuất trong nước “Bảo hộ hợp lý nền sản xuất trong nước tránh khỏi sự cạnh tranh từ bên ngoài được coi là hết sức cần thiết đối với các nước.
Điều này được thể hiện rõ nét thông qua thuế xuất nhập khẩu. Để kích thích sản xuất trong nước phát triển, kích thích sản xuất hàng hoá xuất khẩu, Nhà nước đánh thuế rất thấp hoặc không đánh thuế vào hàng xuất khẩu. Khuyến khích xuất khẩu hàng hoá đã qua chế biến, hạn chế xuất khẩu nguyên liệu thô. Đánh thuế nhập khẩu thấp đối với Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn c 9 hàng hoá máy móc thiết bị trong nước chưa sản xuất được và đánh thuế nhập khẩu cao đối với hàng hoá máy móc thiết bị trong nước đã sản xuất được hoặc hàng hoá tiêu dùng xa xỉ.
Lý luận chung về thuế giá trị gia tăng a.