Chương 1: Cơ sở lý thuyết về thuế GTGT và quản lý thuế GTGT Chương 2: Phân tích công tác quản lý thuế GTGT ở chi cụ c Thuế huyện Yên Dũng tỉnh Bắc Giang. Chương 3: Đề xuất m ột số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế giá trị gia tăng tại Chi cục Thuế huyện Yên Dũng 5 LÝ THUYT V THU GIÁ TR GIA VÀ QUN LÝ THU GIÁ TR 1. Mt s khái ni n v thu giá tr và qun lý thu giá tr 1. Mt s khái ni m v thu 1.
Khái nim thu Thuế là một hình thức huy động nguồn tài chính cho Nhà nước đã có từ lâu đời. Khi Nhà nước ra đời, thu ế trở thành công cụ để Nhà nước có được nguồn thu nhằm trang trải các chi tiêu c ủa Nhà nước. Tr ải qua quá trình phát triển lâu dài và cho đến nay, các Nhà nuớc đều sử dụ ng thuế để phân ph ối các khoản thu nhập và huy động nguồn thu cho Nhà nước. Sự ra đời và tồn tại của thuế gắn liền với sự ra đời và tồn tại của Nhà nước.
Do đó, thuế là một phạ m trù kinh tế, đồng thời là phạm trù lịch sử. Với những quan điểm như trên cho thấy, Nhà nước và thuế là hai phạm trù gắn bó hữu cơ với nhau. Nhà nước tồn tại tất yếu phải có thuế để đảm bảo điều kiện vật chất cho sự tồn tại và hoạt động của nhà nước. Thuế có thể thu bằng tiền, hiện vật hoặc bằng ngày công lao động.
Xét về nội dung vật chất, thuế là một bộ phậ n c ủa cải xã hội tập trung vào qu ỹ ngân sách nhà nước, mà thự c chất là một bộ phận của cải từ khu vực tư được chuyển vào khu vực công, nhằm trang trải những kinh phí để duy trì s ự tồn tại, hoạt động của bộ máy nhà nước và các chi phí công cộng. Về bả n chất kinh tế, thuế phản ánh quan h ệ phân phối của cải xã hội dưới hình thức giá trị giữa nhà nước với các chủ thể khác trong xã hội. Các quan hệ kinh tế này được nảy sinh một cách khách quan giữa nhà nước và các chủ thể khác trong xã hội, đặc biệt là các pháp nhân và các th ể nhân. Trong đó các pháp nhân, thể nhân phải chuyển giao b ắt buộc một phần của cải của mình cho nhà nước theo đúng quy định do chính nhà nước đề ra mà không gắn với bất k ỳ một ràng buộc nào về sự hoàn tr ả số thuế đã nộ p, hoặc cung cấp tr ực tiếp hàng hoá hay d ịch vụ cho người nộp thuế từ phía nhà nước.
6 Như vậy, có thể hiểu thuế là hình thức động viên bắt buộc của nhà nước theo luật định, thuộc phạ m trù phân phối, nh ằm tập trung một bộ phận thu nhập của các thể nhân và pháp nhân vào ngân sách nhà nước, để đáp ứng các nhu c ầu chi tiêu của nhà nước và phục vụ cho lợi ích công cộng, chính sách xã hội. Cha thu Thuế có ba chức năng cơ bản là: - Công cụ chủ yếu trong vi ệc tập trung nguồn lực vào ngân sách nhà nước để đảm bảo cho chi tiêu c ủa nhà nước. - Công cụ điều tiết nền kinh tế thị trường góp phần bảo đả m sự phát triển ổn định, cân đối của nề n kinh tế. - Công cụ quan trọng góp phần tái phân phối thu nhập nhằ m thực hiện công bằng xã hội.
Phân loi thu Số lượng các sắc thuế trong hệ thố ng thuế của các quốc gia là không giống nhau, nó tuỳ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội và mụ c tiêu xây dựng hệ thống thuế quốc gia trong giai đoạn cụ thể. Tuy vậy, để phân tích tác độ ng của thuế đến các quá trình kinh t ế - xã hội nhằm xây dựng điều chỉnh hệ thống thuế cho phù hợp người ta có thể lựa chọn các tiêu thức khác nhau để phân loại: - Phân loại theo tính chất chuyển giao thuế: Chuyển giao thuế là việc xác định ai là người nộp thuế, ai là người thực sự phải gánh chịu thuế. Theo tiêu thức này thuế được chia thành hai loại là thuế trực thu và thu ế gián thu. + Thuế trực thu là loại thuế xác định đối tượng chịu thuế đồng thời cũng là đối tượng nộp thuế như: thuế thu nhập doanh nghi ệp, thuế thu nhập cá nhân,v.
+ Thuế gián thu là lo ại thuế mà đối tượ ng n ộp thuế và đối tượng chịu thu ế khác nhau như: thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế GTGT, thuế xuất nhập khẩu, v. - Phân loại thuế theo đối tượng đánh thuế: Đối tượng đánh thuế là gì, thu ế đánh trên cái gì? Dựa vào đó, thuế được chia thành các loại: + Thuế tài sản là thuế đánh vào bản thân tài s ản chứ không đánh vào phần thu nhập phát sinh từ tài s ản đó. Các loại thuế tài sản gồ m: thuế nhà đất, thuế chuyển nhượng tài sản (nhà cử a, xe cộ. 7 + Thuế đánh vào thu nhập là thuế chỉ đánh vào những đối tượng có thu nhập như: thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân.
+ Thuế tiêu dùng là loại thuế đánh vào phần thu nhập của người tiêu dùng sản phẩm hàng hoá b ị đánh thuế như thuế GTGT, thu ế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu. + Thuế đánh trên hoạt động là thuế đánh trên các hoạt động kinh tế như: thuế môn bài đánh vào hoạt động kinh doanh. Mt s khái nin v thu giá tr 1. Khái nim thu giá tr Thuế giá trị gia tăng (Tiếng Anh là Value Added Tax -VAT) là loại thuế được tính trên giá trị tăng thêm của hàng hoá, d ịch vụ phát sinh từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng.
Chỉ người bán hàng hoá, dịch vụ lần đầu ph ải n ộp thuế GTGT trên toàn bộ doanh thu bán hàng hoá, d ịch vụ đó. Vì thuế GTGT được đánh trên giá trị tăng thêm của hàng hoá, dị ch vụ nên đối tượng đánh thuế là hàng hoá, d ịch vụ. Đối tượng nộp thuế là cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ còn đối tượng chịu thuế là người tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ đó. Thuế GTGT được áp d ụng ở một vài nước Tây Âu từ những năm 50 của th ế kỷ XX.
Năm 1954, Chính phủ Pháp chính thứ c ban hành thuế GTGT nhằ m hạn chế việc thu thuế chồng chéo lên thuế, với thu ế suất đồng loạt 20% và ch ỉ khấu trừ thuế ở khâu trước đối với nguyên liệu, vật liệu. Đến năm 1966, các nước châu Âu chính thức ban hành thuế GTGT thay thế một số sắc thuế gián thu. Nếu như năm 1989 chỉ có 43 quốc gia áp dụng thuế GTGT thì đến năm 2012 đã có trên 150 nước áp d ụng sắc thuế này và mức thu ế suất dao động từ 5% – 20% tu ỳ theo nền kinh tế mỗi quốc gia (Theo NHTG – 2012). Ở Việt Nam, Luật thuế GTGT được thông qua lần đầu tại kỳ họp th ứ 11 Quốc hội khóa IX ngày 10 tháng 5 năm 1997.
Nay là Luật thuế GTGT số 13/2008/QH12 được Quốc hội khóa XII k ỳ họ p thứ 3 thông qua ngày 03 tháng 6 năm 2008 và có hiệu lự c thi hành từ 01/01/2009, theo quy định tại Điều 2: “Thuế GTGT là thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xu ất, lưu thông đến tiêu dùng”. Như vậ y, Thuế GTGT có tên gọi là cơ sở tính thuế, là loại thuế có đối tượng đánh thuế là hàng hoá, d ịch vụ. Tại mỗi khâu sản xuất, cung ứ ng 8 dịch vụ, thuế GTGT chỉ tính trên giá trị tăng thêm của hàng hoá, d ịch vụ ở từng khâu, mà không đánh vào phần giá trị đã chị u thuế ở khâu trước nên cách tính thu ế là rất khoa h ọc, rất cần thiết đối với sự phát tri ển sản xuất theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá và phù hợp với yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế. Vì Thuế là công cụ rất quan trọng để Nhà nước thực hiện chức năng quản lý vĩ mô đối với nền kinh tế.
Nền kinh tế nước ta đang trong quá trình vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý cuả nhà nước, do đó thuế giá trị gia tăng có vai trò rất quan tr ọng. Các yu t cu thành thu giá tr Thuế GTGT có các thành tố sau: - Tên gọi của Luật Thuế GTGT dựa trên cơ sở tính thuế là giá trị gia tăng của hàng hoá dịch vụ qua mỗi khâu sản xuất kinh doanh hàng hoá, dị ch vụ. - Cơ sở đánh thuế c ủa Thuế GTGT là các đối tượng tiêu dùng hàng hoá trong xã hội đều phải nộ p một khoản thuế nhất định, khoản thuế này phải nộp vào ngân sách nhà nước thông qua nhà sản xuất, cung ứng hàng hoá dịch vụ. - Thuế suất thuế GTGT : Thuế GTGT là lo ại thuế có ít thuế suất và thuế suất thấp, tu ỳ theo chính sách thuế của từng quốc gia mà thuế suất thường giao động từ 5% đến 20%.
Thu sut thu GTGT ca mt s c trên th gii c S ng mc thu sut Thu sut Inđônêxia 1 10% Philipin 1 10% Thái Lan 1 10% Trung Quốc 2 13%, 17% Hàn Quốc 1 10% Nhật Bản 1 5% Đan Mạch 1 25% Việt Nam 3 0%, 5%, 10% (Ngun: T trình c a Chính ph án s i, b sug lut thu GTGT) - Đối tượng nộp thuế GTGT là nhà s ản xuất, cung ứng dịch v ụ. Đối tượng nộp thuế có nghĩa vụ thu số tiền thuế của người tiêu dùng hàng hoá, d ịch vụ để nộp ngân sách nhà nước. 9 - Đối tượng ch ịu thuế GTGT là người tiêu dùng hàng hoá và dịch v ụ. Mọi tổ chức, cá nhân khi tiêu dùng hàng hoá và d ịch vụ thuộc diện tính thu ế đều ph ải tr ả ngay một khoản thuế khi thanh toán mua hàng, trừ một số đối tượng tiêu dùng đặc biệt được miễn thuế.
- Đối tượng đánh thuế đối với thuế GTGT là hàng hoá và dịch vụ. - Quy trình khai thu ế và nộp thuế GTGT. Việc kê khai nộp thuế GTGT được thực hiện khi phát sinh quan hệ mua và bán hàng hoá chịu thuế GTGT. Tuy nhiên để đơn giản hoá thì thu ế GTGT thường được kê khai nộp vào một kỳ nhất định.
Theo quy định của Luậ t thuế GTGT Việt Nam là hàng tháng, hàng quý tùy theo doanh thu năm trước của từng doanh nghiệp.