Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý thu thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Cục Thuế cấp tỉnh Chương 2: Phân tích thực trạng quản lý thu thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bản tỉnh Thanh Hóa Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý thu thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bản tỉnh Thanh Hóa. CHUONG 1 CO SO LY LUAN VE QUAN LY THU THUE GIA TRI GIA TĂNG ĐÓI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA. Thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa 1. Doanh nghiệp nhỏ và vừa 1.
Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa Thực tế trên thế giới, các nước có quan niệm rất khác nhau về doanh nghiệp. nhỏ và vừa, nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự khác nhau này là tiêu thức dùng để phân loại quy mô doanh nghiệp khác nhau. Tuy nhiên trong hàng loạt các tiêu thức phân loại đó có hai tiêu thức được sử dụng ở phần lớn các nước là quy mô vốn và số lượng lao.1: Tiêu thức xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa ở một số nước và vùng lãnh thé Tiêu thức áp dụng Nước Số lao động Tong von hoje giá tri tài sản Indonéxia =100 <0,6 tỷ Rupi Singapo. <100 <499 trigu USD Thai Lan <100 <200 Bath Hàn Quốc <300 trong CN, XD <0,6 triệu USD <200 trong TM&DV <0,25 trigu USD Nhat Ban <100 trong bán buôn <10 triệu yên <50 trong bán lẻ <100 triệu yên EU <250 <27 trigu ECU Mêhicô <250 <7 trigu USD My <500 <20 trigu USD Nguôn: NXB thống kê Tại Việt Nam tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa được thể hiện trong Nghị định 90/2001/NĐ ngày 23-11-2001 của Chính Phủ.
Theo quy định này doanh nghiệp nhỏ và vừa được định nghĩa như sau: “Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 30 người”. Nhu vậy, tắt cả các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế có đăng ký kinh doanh và thoả mãn một trong hai điều kiện trên đều được coi là doanh nghiệp. nhỏ và vừa. Theo cách phân loại này ở Việt Nam có khoảng 93% trong tổng số doanh nghiệp hiện có là doanh nghiệp nhỏ và vừa, cụ thé là 80% các doanh nghiệp.
nhà nước thuộc nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong khu vực kinh tế tư nhân doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm tỷ trọng 97% xét về vốn và 99% xét về lao động so. với tông số DN cua ca nude Tuy nhiên căn cứ Khoản 1 Điều 3 Nghị dinh sé 56/2009/ND-CP ngay 30/6/2009 của Chính phủ về doanh nghiệp nhỏ và vừa thì: “Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tông nguồn vốn (tổng nguồn vón tương đương. tông tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao. động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí tru tiên)”.
Cụ thể như sau: Bảng 1.2: Tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa theo cơ cấu nguồn vốn và lao động Đoanh Inghiệp siêu Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa Quy mô| — nhỏ. Khu vực Sốlao động |Tổng vốnnguồn Số lao động Tong vấnnguồn % Số lao động L Nông lâm | io nguai | 20ty ding | từ trên 10 người | “ten 20ty | từ trên200 nghiệp thủy sản.và | rờ vuống Xuông | trởxuống 8 | đến200 người e | 100,00ngdện tỷ đồng- _ || người dến 300 người 1L. Công nghiệp | 10 người. | 20 tỷ đồng | từ rên 10 người | tàntirtrén đến 20100 tytỷ | Í từngười trên đến 200 và xây dựng | trở xuống | trởxuống | đến 200 người đồng.
300 người II. Thương mại | 10 người | 10tỷ đồng | từ trên 10 người | từưênHOtÿ | Từ trên 50 vàdịhvụ | trởxuống | trởxuống | đến 50 người 50đồngtỷ đồng đến _ || người đến 100 người Nguôn: tông cục thông kê 1. Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam Thứ nhất: Doanh nghiệp nhỏ và vừa thường gắn với công nghệ thủ công, lạc hậu: Nhìn chung các doanh nghiệp vừa và nhỏ bị hạn chế bởi nguồn vốn, tài nguyên, đất đai và công nghệ. Sự hữu hạn về nguồn lực này là do tôn chỉ và nguồn gốc hình thành doanh nghiệp.
Mặt khác còn do sự hạn hẹp trong các quan hệ với thị trường tài chính - tiền tệ, quá trình tự tích luỹ thường đóng vai trò quyết định cua từng doanh nghiệp vừa và nhỏ. Thứ hai: Hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhỏ và vừa thuộc các thành phân kinh tế còn nhiêu bắt cập: Sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. vừa và nhỏ đạt hiệu quả thấp có tính chất phô biến trong tắt cả các ngành, các loại hình sở hữu. Do thiếu vốn cho hoạt động mở rộng sản xuất nên dẫn đến tình trạng yếu kém, hiệu quả chưa cao.
Các doanh nghiệp nhỏ và vừa tuy có hoạt động trong. môi trường của nên kinh tế thị trường nhưng thị trường vốn mới đi vào hoạt động. Thứ ba: Tiềm lực và năng lực cạnh tranh yếu: Doanh nghiệp vừa và nhỏ có quy mô vốn nhỏ, gặp khó khăn trong việc tiếp cận với nguồn vốn chính thức, đặc biệt là ở các nước đang phát triển. Với nguồn vốn nhỏ hẹp, các doanh nghiệp này thường tập trung vào các ngành hàng gần gũi với người tiêu dùng trong khi các tập.
đoàn lớn thường có xu hướng vươn mình ra thế giới, thành lập các chỉ nhánh, công ty con ở các quốc gia có nhiều lợi thế. 'Từ những đặc điểm trên, có thể khái quát thành những đặc trưng cơ bản của doanh nghiệp nhỏ và vừa như sau - Hình thức sở hữu: Có đủ các hình thức sở hữu: Nhà nước, tập thể, tư nhân và hỗn hợp. ~ Về hình thức pháp lý: Các doanh nghiệp nhỏ và vừa được hình thành theo. Luật doanh nghiệp và những văn bản dưới luật.
Đây là những căn cứ để xác định tư cách pháp nhân rất quan trọng để điều chỉnh hành vi của các doanh nghiệp nói chung trong đó có DNNVV, đồng thời cũng xác định rõ vai trò của nhà nước đối với DNNVV trong nền kinh tế. - Lĩnh vực và địa bàn hoạt động: Doanh nghiệp vừa và nhỏ thường tập trung. ở nhiều khu vực chế biến và dịch vụ, tức là gần với người tiêu dùng hơn. Trong đó cụ thể là: « Doanh nghiệp vừa và nhỏ là vệ tỉnh, chế biến bộ phận chỉ tiết cho các doanh nghiệp lớn với tư cách là tham gia vào các sản phẩm đầu tư.
« Doanh nghiệp vừa và nhỏ thực hiện các dịch vụ đa dạng và phong phú trong nên kinh tế như các dịch vụ trong quá trình phân phối và thương mại hoá, dịch vụ sinh hoạt và giải trí, dịch vụ tư vấn và hỗ trợ. «Trực tiếp tham gia chế biến các sản phẩm cho người tiêu dùng cuối cùng, với tư cách là nhà sản xuất toàn bộ. Chính nhờ tính chất hoạt động kinh doanh này mà các doanh nghiệp vừa và nhỏ có lợi thế về tính linh hoạt. Có thể nói tính linh hoạt là đặc tính trội của các doanh nghiệp vừa và nhỏ, nhờ cấu trúc và quy mô nhỏ nên khả năng thay đổi mặt hàng, chuyển hướng kinh doanh thậm chí cả địa điểm kinh doanh được coi là mặt mạnh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
- Công nghệ và thị trường: Các doanh nghiệp nhỏ và vừa chủ yếu có năng lực tài chính rất thấp, có công nghệ, thiết bị lạc hậu, chủ yếu sử dụng lao động thủ công. Do đó, các doanh nghiệp vừa và nhỏ bị thụ động nhiều hơn ở thị trường. Cơ hội “đánh thức”, “dẫn dắt” thị trường của họ rất nhỏ, nguy cơ “bị bỏ rơi”, phó mặc. rất lớn minh chứng bằng việc con số doanh nghiệp vừa và nhỏ bị phá sản ở các nước có nên kinh tế thị trường đang phát triển nhiều hơn so với các thị trường khác.
~ Trình độ tổ chức quản lý và tay nghề của người lao động còn thấp và yếu: Xuất phát từ nguồn gốc hình thành, tính chất, quy mô. các quản lý doanh nghiệp vừa và nhỏ thường nắm bắt, bao quát và quán xuyến hầu hết các mặt của hoạt động kinh doanh. Thông thường họ được coi là nhà quản trị doanh nghiệp hơn là nhà quản lý chuyên sâu. Chính vì vậy mà nhiều kỹ năng, nghiệp vụ quản ly trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ còn rất thấp so với yêu cầu.
Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa đối vớisự phát triển kinh tế- xã hội Cùng với tiến trình đổi mới, phát triển đất nước, DNNVV có vị trí, vai trỏ rất quan trọng, đóng góp to lớn vào ôn định, phát triển kinh tế đất nước : khai thác tiềm. năng vốn, tài nguyên, lao động, thị trường, nâng cao sức cạnh tranh , hoàn thiện cơ chế, thể chế kinh tế thị trường theo định hướng XHCN. Vai trỏ của các DNNVV. được thê hiện như sau: 10 Thứ nhất, các doanh nghiệp nhỏ và vừa có vai trò quan trong trong sự tăng trưởng của nên kinh tế.
Ở Việt Nam, năm 2015 Các doanh nghiệp nhỏ và vừa dong góp hơn 40% GDP cả nước, nếu tính cả 133.000 HTX, trang trại và hộ kinh doanh cá thể thì khu vực này đóng góp vào tăng trưởng tới 60% GDP. Bên cạnh đó, theo. đánh giá của Viện nghiên cứu và quản lý trung ương, doanh nghiệp nhỏ và vừa còn đóng góp 31% giá trị sản xuất công nghiệp; chiếm 78% mức bán lẻ của ngành thương nghiệp, 64% khối lượng vận chuyển hành khách và hàng hoá. Thứ hai, giải quyết một số lượng lớn chỗ làm việc cho dân cư, làm tang thu nhập cho người lao động, góp phẩn xoá đói giảm nghèo.
Hiện nay số lượng lao động của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong các lĩnh vực phi nông nghiệp có khoảng 7,§ triệu người, chiếm khoảng 79,2% tông số lao động phi nông nghiệp và chiếm khoảng 22,5% lực lượng lao động của cả nước. Thứ ba, các doanh nghiệp nhỏ và vừa góp phần làm năng động nên kinh tế trong cơ chế thị trường, góp phần đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đặc biệt với khu vực nông thôn, góp phần vào đô thị hoá phi tập trung và thực hiện phương châm “ly nông bắt ly hương”. Thứ tư, khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa thu hút được khá nhiều vốn trong đân, là nơi ươm mầm các tài năng kinh doanh, là nơi đảo tạo, rèn luyện các nhà doanh nghiệp, giúp họ làm quen với môi trường kinh doanh.