phần mở đầu, kết luận, luận văn có kết cấu gồm 4 chƣơng: - Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh. - Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu - Chƣơng 3: Thực trạng quản lý thuế đối với DNNQD tại địa bàn quận Cầu Giấy. - Chƣơng 4: Định hƣớng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý thuế đối với DNNQD tại địa bàn quận Cầu Giấy. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP.
Tổng quan tình hình nghiên cứu Xung quanh vấn đề Quản lý thuế đối với doanh nghiệp của cả nƣớc nói chung, của từng địa phƣơng nói riêng đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhƣng mỗi công trình nghiên cứu ở những khía cạnh khác nhau. Trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu đề tài, tác giả đã có cơ hội tiếp cận, tham khảo một số công trình khoa học tiêu biểu trong nƣớc có liên quan đến đề tài nhƣ sau: - Đề tài: “Quản lý thu thuế đối với khu vực ngoài quốc doanh tại chi cục thuế huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ”, Luận văn thạc sỹ Kinh tế của Nguyễn Khắc Minh, Hà Nội, 2014. Luận văn làm rõ bản chất và chức năng đặc điểm của thuế, hệ thống hóa và làm rõ đƣợc những lý luận cơ bản về quản lý thuế của địa phƣơng. Luận văn đã phân tích khá toàn diện và khách quan thực trạng công tác quản lý thuế của huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ ở các khía cạnh: Thực trạng nguồn thu thuế và việc nuôi dƣỡng phát triển nguồn thu; Quản lý sử dụng nguồn thu thuế; Công tác kiểm tra, giám sát thực thi pháp luật về thuế của Chi cục thuế huyện Phù Ninh.
- Đề tài: “Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý thuế đối với các công ty cổ phần trên địa bàn quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội”, Luận văn thạc sỹ Kinh tế của Nguyễn Thị Ánh Nguyệt, Hà Nội, 2013. Tác giả của Luận văn tập trung vào nghiên cứu đối tƣợng là các doanh nghiệp trên địa bàn quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội. Trong luận án tác giả đã sử dụng phƣơng pháp thu thập số liệu sơ cấp để nghiên cứu hành vi tuân thủ thuế của các Doanh nghiệp trên địa bàn quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội. Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý thuế của Nhà nƣớc thông qua khảo sát ý kiến của các Doanh nghiệp trên địa bàn quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội từ 5 đó xác định các giải pháp hoàn thiện quản lý thuế nhằm cải thiện mức độ tuân thủ thuế của Doanh nghiệp trên địa bàn quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội.
- Luận văn thạc sĩ kinh tế “Kiểm tra thuế trong điều kiện quản lý thuế hiện nay tại Cục Thuế Hải Phòng” (2012) của Nguyễn Hữu Thọ. Đề tài này hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động kiểm tra đối với ngƣời nộp thuế. Từ nghiên cứu lý luận, đề tài đề cập đánh giá thực trạng của công tác kiểm tra thuế trên địa bàn thành phố Hải Phòng, chỉ ra những bất cập và nguyên nhân của việc tuân thủ pháp luật về thuế, nhằm đƣa ra những giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kiểm tra thuế ở Cục thuế Hải Phòng. - Luận văn thạc sĩ kinh tế “Hoàn thiện quản lý nợ thuế và cƣỡng chế thuế tại Chi cục thuế quận Cầu Giấy, thành phố Hà nội” (2016) của Nguyễn Quốc Hùng.
Đề tài đã hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản về quản lý nợ thuế và cƣỡng chế thuế đối với ngƣời nộp thuế. Đánh giá thực trạng của công tác quản lý nợ thuế và cƣỡng chế thuế trên địa bàn quận Cầu Giấy, chỉ ra những bất cập và nguyên nhân của việc nợ thuế, nhằm đƣa ra những giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nợ thuế và cƣỡng chế thuế tại Chi cục thuế quận Cầu Giấy. Ngoài ra còn nhiều công trình nghiên cứu, nhiều bài viết thiết thực liên quan đến công tác quản lý thuế trong những năm qua. Các công trình nghiên cứu kể trên đã giải quyết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về thuế, quản lý thuế nói chung cũng nhƣ quản lý thuế đối với khu vực NQD nói riêng, cụ thể : Thứ nhất, làm rõ cơ sở lý luận của thuế trên các mặt: khái niệm, bản chất, vai trò và tác dụng của thuế, phân loại thuế.
Thứ hai, đi sâu nghiên cứu từng sắc thuế cụ thể nhƣ: Thuế môn bài (MB), thuế giá trị gia tăng (GTGT), thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN), thuế tài nguyên (TN),. Hầu hết các loại thuế này đều liên quan đến thu thuế khu vực NQD. 6 Thứ ba, luận giải các vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản về quản lý thuế nói chung, bao gồm từ khái niệm, chức năng, vai trò, nội dung quản lý thuế đến các quy trình, thủ tục, mô hình quản lý thuế. Thứ tư, làm rõ đƣợc cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý thu đối với một số loại thuế Thứ năm, làm rõ đƣợc một số vấn đề cơ bản về quản lý thuế đối với một số đối tƣợng nhƣ: khu vực kinh tế tƣ nhân hộ cá thể kinh doanh, các cơ sở kinh tế, DN tƣ nhân.
Tuy nhiên, đến nay nhiều nội dung, nhiều quy định pháp luật đã có thay đổi; cơ chế, chính sách thuế đã có nhiều sửa đổi và bổ sung lớn; mô hình quản lý thuế cũng có những thay đổi, chuyển từ mô hình “cơ quan thuế thực hiện toàn diện các khâu” sang mô hình ngƣời nộp thuế (NNT) “tự khai, tự nộp” với sự kiểm tra của cơ quan thuế. Ngoài ra, tiến trình cải cách thủ tục hành chính làm thay đổi căn bản nhiều nội dung trong quản lý thuế. Do vậy, không ít kết quả nghiên cứu khoa học trƣớc đây không còn phù hợp. Hơn nữa, bản thân vấn đề thuế và quản lý thuế đối với khu vực NQD tuy không phải là vấn đề mới nhƣng rất phức tạp, đòi hỏi phải tiếp tục nghiên cứu để ngày càng hoàn thiện hơn và phù hợp với sự vận động liên tục của nền kinh tế.
Với lý do đó, việc nghiên cứu đề tài là vấn đề rất cần thiết trƣớc mắt cũng nhƣ lâu dài, đặc biệt là đối với một địa phƣơng nhƣ quận Cầu Giấy mà cho đến nay chƣa có công trình nào nghiên cứu về vấn đề này. Cơ sở lý luận về quản lý thuế đối với doanh nghiệp. Một số khái niệm có liên quan. Khái niệm về thuế: Lịch sử triển của xã hội loài ngƣời đã chứng minh rằng, thuế ra đời là một tất yếu khách quan, gắn liền với sự ra đời, tồn tại và phát triển của Nhà nƣớc.
Để duy trì sự tồn tại của mình, Nhà nƣớc cần có những nguồn tài chính để 7 chi tiêu, trƣớc hết là chi cho việc duy trì và củng cố bộ máy cai trị từ trung ƣơng đến địa phƣơng, thuộc phạm vi lãnh thổ mà Nhà nƣớc đó đang cai quản; chi cho các công việc ban đầu thuộc chức năng của Nhà nƣớc nhƣ: quốc phòng, an ninh, chi cho xây dựng và phát triển các cơ sở hạ tầng; chi cho các vấn đề phúc lợi công cộng, về sự nghiệp, về xã hội trƣớc mắt và lâu dài. Để có nguồn tài chính đáp ứng nhu cầu chi tiêu chung, Nhà nƣớc thƣờng sử dụng ba hình thức đó là: quyên góp của dân, vay của dân và dùng quyền lực Nhà nƣớc bắt buộc dân phải đóng góp. Hình thức Nhà nƣớc dùng quyền lực buộc dân đóng góp để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của mình – chính là thuế. Về quan hệ giữa Nhà nƣớc và thuế, Mác đã viết: “Thuế là cơ sở kinh tế của bộ máy Nhà nƣớc, là thủ đoạn đơn giản để kho bạc thu đƣợc tiền hay sản vật mà ngƣời dân phải đóng góp để dùng vào mọi việc chi tiêu của Nhà nƣớc”.
Ăngghen cũng đã viết: “Để duy trì quyền lực công cộng, cần phải có sự đóng góp của công dân cho Nhà nƣớc, đó là thuế” Cho đến nay, trong giới các học giả và trên các sách báo kinh tế thế giới vẫn chƣa có quản điểm thống nhất về khái niệm thuế, bởi lẽ giác độ nghiên cứu có nhiều khác biệt. Một khái niệm tƣơng đối hoàn thiện đƣợc nêu trong cuốn sách “Economics” của hai nhà kinh tế Mỹ Makkollell và Bruy, dựa trên cơ sở đổi giá nhƣ sau: “thuế là một khoản chuyển giao bắt buộc bằng tiền (hoặc chuyển giao bằng hàng hóa, dịch vụ) của các công ty và các hộ gia đình cho chính phủ, mà trong sự trao đổi đó họ không nhận được trực tiếp hàng hóa, dịch vụ nào cả, khoản nộp đó không phải là tiền phạt mà tòa án tuyên phạt do hành vi vi phạm pháp luật”. Trên giác độ phân phối thu nhập, ngƣời ta định nghĩa: Thuế là hình thức phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân nhằm hình thành các quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện chức năng nhiệm vụ của Nhà nước. 8 Trên giác độ ngƣời nộp thuế, thuế được coi là khoản đóng góp bắt buộc mà mỗi tổ chức, cá nhân phải có nghĩa vụ đóng góp cho Nhà nước theo luật định để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ Nhà nước.
Trên giác độ kinh tế học, thuế là một biện pháp đặc biệt, theo đó, Nhà nước sử dụng quyền lực của mình để chuyển một phần nguồn lực từ khu vực tư sang khu vực công, nhằm thực hiện các chức năng kinh tế - xã hội của Nhà nước. Một cách khái quát, Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho Nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định nhằm sử dụng cho mục đích công cộng. Bản chất của Thuế. - Tính cưỡng chế của thuế Thuế là một hình thức động viên tài chính của nhà nƣớc mang tính quyền lực, tính cƣỡng chế và tính pháp lý.
Thuế do cơ quan quyền lực nhà nƣớc quy định, không một cơ quan nào ngoài cơ quan quyền lực có quyền đặt ra thuế. Đây là một phạm trù độc đáo và có nét riêng, tính cƣỡng chế đƣợc thể hiện thông qua các điều khoản pháp luật. Thuế không thể xây dựng trên và dung hòa với tƣ tƣởng tự nguyện; khoản thuế thu đƣợc không thể trông chờ vào thiện chí hay nhiệt tình của ngƣời dân đối với Nhà nƣớc. Thuế thể hiện ý chí toàn dân chứ không riêng ai cả.