Quản lý thực tập sư phạm trong đào tạo giáo viên tiểu học

Tài liệu nghiên cứu Quản lí thực tập sư phạm trong đào tạo giáo viên tiểu học, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên sâu về giáo dục.

Chuyên ngành

Quản lí giáo dục

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2022

305
1
0

Phí lưu trữ

75 Point

Tóm tắt

I. Cơ sở lý luận của quản lý thực tập sư phạm trong đào tạo giáo viên tiểu học

Quản lý thực tập sư phạm (TTSP) là một yếu tố quan trọng trong đào tạo giáo viên tiểu học. Quản lý thực tập không chỉ đảm bảo chất lượng đào tạo mà còn giúp sinh viên (SV) phát triển kỹ năng nghề nghiệp. Theo nghiên cứu, TTSP có vai trò thiết yếu trong việc kết nối lý thuyết với thực hành, từ đó hình thành phẩm chất và năng lực cho giáo viên tương lai. Đào tạo giáo viên tiểu học cần chú trọng đến việc xây dựng chương trình TTSP phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Các khái niệm cơ bản như quản lý giáo dục, phương pháp giảng dạy, và đánh giá thực tập cần được làm rõ để tạo nền tảng cho việc quản lý hiệu quả. Việc xác định mục tiêu và chuẩn đầu ra cho TTSP là cần thiết để đảm bảo rằng sinh viên có thể đáp ứng được yêu cầu của nghề nghiệp. Đặc biệt, việc hỗ trợ giáo viên trong quá trình thực tập cũng là một yếu tố không thể thiếu.

1.1. Khái niệm và vai trò của thực tập sư phạm

Thực tập sư phạm là giai đoạn quan trọng trong quá trình đào tạo giáo viên, giúp SV làm quen với môi trường giáo dục thực tế. Kinh nghiệm thực tập không chỉ giúp SV áp dụng kiến thức đã học mà còn phát triển kỹ năng mềm cần thiết cho nghề nghiệp. Theo Mỵ Giang Sơn (2016), TTSP góp phần hình thành tri thức và kỹ năng nghề nghiệp, đồng thời nâng cao nhận thức và lòng yêu nghề cho SV. Điều này cho thấy tầm quan trọng của việc quản lý thực tập trong việc đảm bảo chất lượng đào tạo giáo viên tiểu học. Việc tổ chức TTSP cần được thực hiện một cách khoa học và có hệ thống để đạt được hiệu quả cao nhất.

1.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý thực tập sư phạm

Quản lý thực tập sư phạm chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, bao gồm cả yếu tố nội bộ và bên ngoài. Các yếu tố thuộc về trường/khoa sư phạm như chất lượng giảng viên, cơ sở vật chất, và chương trình đào tạo có vai trò quyết định trong việc tổ chức TTSP. Bên cạnh đó, các yếu tố từ môi trường giáo dục phổ thông cũng ảnh hưởng đến chất lượng thực tập của SV. Việc đánh giá thực tập cần được thực hiện một cách khách quan và toàn diện để đảm bảo rằng SV có thể phát triển toàn diện. Các yếu tố này cần được xem xét kỹ lưỡng trong quá trình quản lý TTSP để nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên tiểu học.

II. Thực trạng quản lý thực tập sư phạm trong đào tạo giáo viên tiểu học

Thực trạng quản lý TTSP hiện nay cho thấy nhiều vấn đề cần được giải quyết. Nhiều cơ sở đào tạo giáo viên chưa chú trọng đến việc cập nhật mục tiêu và chuẩn đầu ra cho TTSP. Thực tập sinh thường gặp khó khăn trong việc áp dụng lý thuyết vào thực tiễn do thiếu sự hướng dẫn và hỗ trợ từ giảng viên. Theo khảo sát, nhận thức về vai trò của TTSP trong đào tạo giáo viên còn hạn chế, dẫn đến việc thực hiện mục tiêu và nội dung thực tập chưa đạt yêu cầu. Việc đánh giá kết quả thực tập cũng chưa được thực hiện một cách khoa học, thường mang tính chất hình thức. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đào tạo giáo viên tiểu học.

2.1. Nhận thức về vai trò thực tập sư phạm

Nhiều giảng viên và cán bộ quản lý vẫn chưa nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của TTSP trong quá trình đào tạo giáo viên. Việc này dẫn đến sự thiếu quan tâm trong việc tổ chức và quản lý thực tập. Theo kết quả khảo sát, chỉ một phần nhỏ giảng viên cho rằng TTSP là yếu tố quyết định đến chất lượng đào tạo. Điều này cho thấy cần có sự thay đổi trong nhận thức và hành động của các bên liên quan để nâng cao hiệu quả của TTSP.

2.2. Thực trạng nội dung và phương thức tổ chức thực tập

Nội dung thực tập hiện nay còn thiếu tính cập nhật và chưa phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Phương thức tổ chức TTSP thường mang tính cứng nhắc, không linh hoạt, dẫn đến việc SV không thể phát huy hết khả năng của mình. Nhiều cơ sở đào tạo vẫn áp dụng phương pháp truyền thống, thiếu sự đổi mới trong cách tiếp cận và tổ chức thực tập. Điều này cần được khắc phục để đảm bảo rằng SV có thể tiếp cận với thực tế giáo dục một cách hiệu quả nhất.

III. Giải pháp quản lý thực tập sư phạm trong đào tạo giáo viên tiểu học

Để nâng cao chất lượng TTSP, cần có những giải pháp quản lý hiệu quả. Đầu tiên, cần nâng cao nhận thức của cán bộ quản lý và giảng viên về vai trò của TTSP. Việc này có thể thực hiện thông qua các khóa đào tạo, hội thảo và các hoạt động chia sẻ kinh nghiệm. Thứ hai, cần chú trọng đến việc cập nhật mục tiêu và chuẩn đầu ra cho TTSP, đảm bảo rằng nội dung thực tập phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Cuối cùng, việc đánh giá kết quả thực tập cần được thực hiện một cách khoa học, dựa trên các tiêu chí rõ ràng và cụ thể.

3.1. Nâng cao nhận thức về vai trò thực tập sư phạm

Cần tổ chức các buổi hội thảo, tọa đàm để nâng cao nhận thức của cán bộ quản lý và giảng viên về tầm quan trọng của TTSP. Việc này không chỉ giúp họ hiểu rõ hơn về vai trò của TTSP mà còn tạo động lực cho họ trong việc tổ chức và quản lý thực tập. Các hoạt động này cần được thực hiện thường xuyên để đảm bảo rằng mọi người đều có cơ hội cập nhật kiến thức và kinh nghiệm mới.

3.2. Cập nhật mục tiêu và chuẩn đầu ra cho thực tập sư phạm

Cần thiết lập một quy trình cập nhật mục tiêu và chuẩn đầu ra cho TTSP, đảm bảo rằng nội dung thực tập luôn phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Việc này có thể thực hiện thông qua việc tham khảo ý kiến từ các chuyên gia, giáo viên đang giảng dạy tại các trường tiểu học. Đồng thời, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ sở đào tạo và các trường tiểu học để đảm bảo rằng SV có thể tiếp cận với thực tế giáo dục một cách hiệu quả nhất.

01/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA QUẢN LÍ THỰC TẬP SƯ PHẠM TRONG ĐÀO TẠO GIÁO VIÊN TIỂU HỌC 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 1. Các nghiên cứu trên thế giới về thực tập sư phạm và quản lí thực tập sư phạm trong đào tạo giáo viên tiểu học 1. Về đào tạo giáo viên tiểu học Bậc tiểu học ở các nước kéo dài từ 4 đến 7 năm, phổ biến nhất là 5 đến 6 năm, vì vậy yêu cầu về trình độ đào tạo của GV tiểu học cũng khác nhau, và còn tùy thuộc điều kiện ở mỗi nước trong từng thời kì.

Nhìn chung, ở các nước phát triển, từ lâu GV tiểu học đã được đào tạo ở trình độ đại học - tuyển HS tốt nghiệp phổ thông trung học, đào tạo trong 2 đến 4 năm (Trần Bá Hoành, 2010, tr. Theo Nguyễn Văn Cường (2009), ĐTGV ở Đức nằm trong trách nhiệm của các bang. Vì vậy, việc đào tạo ở các bang có sự khác nhau. Tuy nhiên, có một sự thống nhất khá cao để đảm bảo việc công nhận lẫn nhau trong ĐTGV ở tất cả các bang.

Sự thống nhất này được thực hiện thông qua Hội nghị thường xuyên của các bộ trưởng giáo dục và văn hoá. Có thể tóm tắt những đặc điểm của mô hình ĐTGV ở CHLB Đức như sau: Trước năm 1980, GV được đào tạo trong các trường đại học sư phạm (ĐHSP). Từ những năm 1980, các trường đại học được tích hợp vào các trường đại học tổng hợp đa ngành. Hiện nay, GV được đào tạo trong các trường đại học đa ngành.

Thời gian ĐTGV tiểu học là 7 học kì (ĐTGV bậc THCS từ 7 đến 9 học kì, ĐTGV THPT là 9 học kì). Chương trình ĐTGV tiểu học giữa các bang có khác nhau, trong đó bậc Bachelor là 6 học kì, bậc Master từ 2-4 học kì. Theo mô hình đào tạo mới này, GV cần có trình độ Master thì mới được đăng kí vào giai đoạn ĐTGV tập sự. Vì vậy, tốt nghiệp bậc Bachelor trong chương trình ĐTGV chưa được phép trở thành GV.

Chương trình đào tạo (CTĐT) Bachelor là tính đa giá trị của bằng Bachelor, có nghĩa là người tốt nghiệp không bị ràng buộc duy nhất vào hướng 12 học lên bậc Master theo chương trình ĐTGV mà có thể tìm việc làm ở thị trường lao động theo các hướng khoa học chuyên ngành mà họ đã học. Tuy nhiên, nét đặc thù của mô hình ĐTGV ở Đức theo mô hình phân 2 bậc nối tiếp này là ngay trong bậc Bachelor đã có nội dung về khoa học giáo dục và thực tiễn PT. Chương trình ĐTGV tiểu học ở Úc được thiết kế trong 4 năm học, bao gồm từ khoảng 450 đến hơn 500 điểm tín chỉ (credit points). Mỗi học phần thường gồm 1 tín chỉ trị giá 15 điểm tín chỉ.

Với mỗi học phần, 1 tín chỉ kéo dài từ 12 đến 15 tuần, SV học tại lớp khoảng 3 giờ/1 tuần và tự học ít nhất gấp đôi số giờ học tại lớp. Trong khi đó, chương trình ĐTGV tiểu học ở Anh được thiết kế 3 năm, số lượng học phần cho mỗi năm học trong chương trình của Anh ít hơn của Úc, chỉ 5 học phần cho mỗi năm học. Một đặc điểm chung đầu tiên dễ nhận ra trong các chương trình ĐTGV ở hai nước đó là sự tinh gọn do số lượng học phần/môn học nhỏ. Toàn khóa ĐTGV tiểu học ở Anh và Úc bao gồm từ 15 đến 35 học phần, trong đó bao gồm cả các học phần TTSP hàng năm (Hoàng Tuyết, 2010, tr.

Hệ thống giáo dục ở New Zealand không có các trường đại học chuyên ĐTGV kiểu như hệ thống các trường ĐHSP Việt Nam. Mô hình ĐTGV ở New Zealand là mô hình đào tạo nối tiếp. Một cử nhân đã tốt nghiệp đại học một ngành phù hợp có nguyện vọng được trở thành GV sẽ được đào tạo thêm 01 năm (34 tuần thực học, trong đó 20 tuần học ở trường đại học và 14 tuần trải nghiệm thực tế ở trường PT) (Nguyễn Văn Khải, 2012, tr. Điểm đặc biệt của việc ĐTGV ở Phần Lan là từ GV tiểu học đến GV trung học đều phải có bằng thạc sĩ, GV nhà trẻ và mẫu giáo cần có bằng cử nhân.

Mục đích của chương trình ĐTGV là đào tạo những công dân hiện đại, đào tạo theo hướng nghiên cứu nhằm đào tạo ra những GV không chỉ có khả năng giảng dạy mà còn có khả năng nghiên cứu độc lập. Cùng với việc học lí thuyết, chương trình còn kết hợp với thực tập giảng dạy tại các cơ sở riêng của các trường SP hoặc liên kết nhằm phát triển kĩ năng của các GV tương lai. Việc thực hành giảng dạy giữ vai trò rất quan trọng, được thực hiện với nhiều lớp, nhiều lứa tuổi học sinh ở các giai đoạn khác nhau (Báo Giáo dục Việt Nam, 05/3/2017). 13 Về phương pháp đào tạo, hướng nỗ lực chung là tăng cường rèn luyện năng lực thực hành vận dụng, tập dượt cho giáo sinh giải quyết những tình huống thường gặp trong thực tiễn nghề nghiệp để giáo sinh sớm thích ứng với nhà trường PT sau khi tốt nghiệp.

Theo Trần Bá Hoành (2010): “Thái Lan đang thay đổi cách đánh giá kết quả đào tạo, nhấn mạnh việc đánh giá các năng lực hơn là chỉ trắc nghiệm trình độ kiến thức, khuyến khích tính năng động của các nhóm học tập, tạo điều kiện cho giáo sinh thâm nhập vào cộng đồng” (tr. Ở Singapore, Học viện Quốc gia về Giáo dục kết hợp với Đại học Kỹ thuật Nanyang để tổ chức các khóa ĐTGV cho các trường tiểu học cũng như các trường trung học. Từ 2010, chương trình ĐTGV được thiết kế để có sự kết nối chặt chẽ hơn giữa lí thuyết và thực hành trong các khóa học. Việc đào tạo thực hành được mở rộng và thực hiện tại các trường học, nội dung thực hành tập trung vào các vấn đề về giao tiếp, trong đó chú trọng vào việc phân tích và phản ánh quá trình thực tập của SV với người hướng dẫn (Ngô Minh Oanh, Trần Thị Kim Thanh, 2016, tr.

Ở Mỹ không có các trường ĐHSP. Tuy nhiên các trường đại học đều có những khoa SP đào tạo GV. Muốn học chương trình nào đó để làm GV phải có bằng cử nhân của ngành đó, phải thi đỗ kỳ thi Praxis I - kỳ kiểm tra kiến thức 3 môn cơ bản của tiểu học là đọc, viết, toán. Trong chương trình có ít nhất 3 lần đi thực tập.

Trong quá trình thực tập hoặc kì cuối trước khi ra trường, SV có thể xin đi làm lấy kinh nghiệm, bằng cách làm GV dạy thế. Thực tập xong chuẩn bị hồ sơ tốt nghiệp và xin việc dưới sự chỉ bảo của GV hướng dẫn (GVHD). Đó là những nhà giáo đang dạy, hiệu trưởng hoặc trưởng phòng giáo dục. Sau đó, còn phải thi đầu ra, tức thi Praxis II.

Nếu dạy cấp 1, SV thi kiến thức tổng hợp các môn đọc, viết, khoa học, nghiên cứu xã hội (Thu Hồng, 2019). Quy trình ĐTGV của Đài Loan được chia thành 4 giai đoạn: 1/ Giai đoạn học chuyên môn (khoảng 128 tín chỉ); 2/ Giai đoạn học nghề (khoảng 30 tín chỉ); 3/ Giai đoạn thực tập nghề; 4/ Giai đoạn thi tốt nghiệp và thi cấp chứng chỉ hành nghề: sau khi đi thực tập SV trở về trường để thi tốt nghiệp. Nếu muốn trở thành GV, người 14 học phải vượt qua kì thi cấp chứng chỉ hành nghề dạy học do Bộ Giáo dục Đài Loan tổ chức (Zhu Yiming - Fang YanPing, 2011). Ở Nhật Bản, chương trình ĐTGV gồm 3 phần: Giáo dục đại cương, giáo dục chuyên nghiệp và kiến thức về nghề dạy học.

Để trở thành GV, người học phải hoàn thành một CTĐT đại học hoặc thạc sĩ và tham gia kì thi cấp chứng chỉ dạy học do Hội đồng giáo dục các tỉnh, thành phố tổ chức. Các chứng chỉ chia thành 3 hạng: cao cấp, hạng nhất và hạng nhì tùy thuộc vào trình độ của ứng viên. Chứng chỉ dạy tiểu học cho phép dạy tất cả các môn học. Trong hệ thống các trường ĐTGV, các trường đại học có đào tạo thạc sĩ cấp chứng chỉ cao cấp, các trường đại học có khoa giáo dục cấp chứng chỉ hạng nhất, các trường cao đẳng cấp chứng chỉ hạng hai (Mai Quang Huy, 2014).

Theo hướng tiếp cận năng lực đầu ra của người học, Richard & Rodger (2001) cho rằng “Quá trình đào tạo cần tập trung vào kết quả học tập của người học, tức là hướng tới những gì người học phải làm được so với những gì họ học được”. Từ các nghiên cứu trên cho thấy, các trường đều quan tâm đến việc thực hành giảng dạy cùng việc học lí thuyết trong quá trình đào tạo nhằm phát triển kĩ năng nghề nghiệp cho những GV tương lai. Hầu hết các CTĐT chú trọng đến kĩ năng thực hành, thực tập và nhấn mạnh đến việc đánh giá năng lực hơn trình độ kiến thức của SV, đề cao những gì SV làm được hơn là những gì họ đã học được. Tuy nhiên, ĐTGV như thế nào để đáp ứng nhu cầu mới, tình hình mới, hướng tới mục tiêu chung là phát triển phẩm chất, năng lực người học thì chưa được các tác giả quan tâm nghiên cứu sâu để công tác ĐTGV đạt được hiệu quả tốt nhất.

Về thực tập sư phạm trong đào tạo giáo viên Trong ĐTGV tại Đức, các kì thực tập trong giai đoạn Bachelor gồm: 03 tuần thực tập định hướng; 03 tuần thực tập trong lĩnh vực thực hành SP - tâm lí học; các thực tập hàng ngày về lí luận dạy học chuyên ngành. Các kì thực tập trong giai đoạn Master gồm: 01 tuần thực tập chẩn đoán tâm lí; 04 tháng thực tập nhà trường. Như vậy, ngay trong giai đoạn Bachelor (06 học kì) đã có các thực tập hàng ngày về lí 15 luận dạy học chuyên ngành (sau giai đoạn này người học vẫn chưa được phép trở thành GV). Sự xen kẽ về chuyên môn và nhân sự trong thời gian thực tập hàng ngày sẽ làm cho việc gắn với thực tiễn của quá trình ĐTGV được tăng cường (Nguyễn Văn Cường, 2009).

Đại học Potsdam là một trong các trường đại học rất quan tâm đến việc thực tập nghề nghiệp cho SV. Ngay từ năm thứ nhất, SV đã được đi thực tập tại các trường PT, trong suốt thời gian học SV trải qua 5 kì thực tập (Nguyễn Văn Cường, Cao Thị Hà, Nguyễn Danh Nam, 2016). Các kỳ thực tập trong giai đoạn Bachelor: - Thực tập định hướng: Được thực hiện ngay sau học kì I, thời gian của đợt thực tập định hướng là 3 tuần, công việc chính của SV trong đợt thực tập này là dự giờ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Quản lý thực tập sư phạm cho giáo viên tiểu học" cung cấp cái nhìn sâu sắc về quy trình và phương pháp quản lý thực tập sư phạm, đặc biệt là trong bối cảnh giáo dục tiểu học. Tác giả nhấn mạnh tầm quan trọng của việc chuẩn bị cho giáo viên tương lai, từ việc xây dựng chương trình thực tập đến việc đánh giá hiệu quả của các hoạt động thực tập. Bài viết không chỉ giúp các nhà quản lý giáo dục hiểu rõ hơn về cách thức tổ chức thực tập mà còn cung cấp những lợi ích thiết thực cho giáo viên, như nâng cao kỹ năng giảng dạy và khả năng ứng phó với các tình huống trong lớp học.

Để mở rộng thêm kiến thức về quản lý giáo dục, bạn có thể tham khảo bài viết "Luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục quản lý hoạt động giáo dục an toàn giao thông cho học sinh tiểu học trên địa bàn thị xã bến cát tỉnh bình dương", nơi đề cập đến các phương pháp quản lý giáo dục an toàn cho học sinh. Ngoài ra, bài viết "Quản lý giáo dục quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh ở trường tiểu học đoàn thị điểm hà nội trong bối cảnh hội nhập quốc tế" sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về việc giáo dục văn hóa ứng xử trong môi trường học đường. Cuối cùng, bài viết "Luận án tiến sĩ quản lý phát triển đội ngũ giảng viên các trường cao đẳng y tế trên địa bàn thành phố hà nội hiện nay" cũng mang đến những góc nhìn thú vị về phát triển đội ngũ giảng viên, một yếu tố quan trọng trong quản lý giáo dục. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và có cái nhìn toàn diện hơn về lĩnh vực giáo dục.