Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG THƯ VIỆN VÀ VĂN HÓA ĐỌC TRONG CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan các nghiên cứu vấn đề hoạt động thư viện và văn hóa đọc 1. Các nghiên cứu về hoạt động thư viện và quản lí hoạt động thư viện Với sự ra đời của mình, thư viện đã chứng minh là một kho tri thức vô cùng rộng lớn của nhân loại. Chính bởi lẽ đó người ta còn khẳng định rằng thư viện cũng là một đền đài của văn hóa và sự uyên thâm.
Được sinh ra khi nông nghiệp giữ vị trí quan trọng nhất trong tư duy của nhân loại, có thể nói thư viện thật sự đã trải qua một cuộc hồi sinh bằng phát minh ra ngành in ở thời kỳ Phục hưng. Cho tới khi các quy trình in ấn được cơ giới hóa bởi cuộc cách mạng công nghiệp thì đó cũng là lúc thư viện đi vào giai đoạn phát triển khởi sắc. Hiện tại, hoạt động Thông tin - Thư viện (TT-TV) có ở tất cả các cơ quan thông tin như: Thư viện, các trung tâm thông tin, trung tâm tài nguyên hay các cơ sở dữ liệu. Tất cả các loại hình thư viện đều nhằm phục vụ cho nhu cầu tìm kiếm thông tin theo mục đích của người sử dụng [26].
Vì vậy mà thông tin cũng tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau: - Đầu tiên phải kể đến các tài liệu tồn tại dưới dạng vật chất được thông qua hệ thống thư viện học với công tác thư viện. - Tiếp đó là hình thức lưu trữ thông tin tư liệu gắn liền thông tin học bằng các hoạt động thông tin. - Cuối cùng là tài nguyên điện tử được biểu hiện thông qua thư viện số và sự hình thành của công nghệ mới. Thư viện ra đời chính là nơi lưu giữ và bảo tồn mọi nền văn minh của 7 nhân loại.
Cũng vì lẽ đó mà thư viện luôn luôn thay đổi, phát triển đi lên để phù hợp với sự thay đổi của xã hội. Càng ngày, nhu cầu tìm kiếm, thu thập thông tin của người dân càng cao cũng đòi hỏi thư viện phải ngày càng phát triển để đáp ứng được mọi nhu cầu ấy. Vấn đề đầu tiên mà chúng ta phải quan tâm là sự thay đổi quan niệm về quản lý. Lúc đầu, quản lý tài liệu chỉ được hiểu là quản lý về mặt vật chất và người thủ thư chỉ cần quan tâm đến số lượng, quy mô và không gian của thư viện.
Và quản lý thông tin cũng chỉ cần quan tâm đến sự nhanh chóng cũng như nội dung bên trong của các tài liệu. Sự thay đổi này đòi hỏi người quản lý thông tin không chỉ dừng lại ở việc quan tâm các thông tin trong thư viện mình mà phải nắm bắt được các thông tin ở bên ngoài. Đây cũng chính là tiền đề cho sự manh nha của giai đoạn quản lý thông tin. Đáng chú ý phải nói đến sức ảnh hưởng to lớn của hệ thống mạng Internet đặc biệt là sự xuất hiện của các trang Website đã tạo nên một cuộc bùng nổ thông tin thật sự.
Con người có rất nhiều sự lựa chọn khi muốn tìm kiếm một thông tin bất kỳ nào đó trên nền tảng Internet. Với hàng trăm, hàng triệu các nguồn thông tin khác nhau người đọc, người xem chỉ cần có một thao tác là lựa chọn thông tin nào phù hợp với nhu cầu tìm kiếm của mình. Cũng chính vì sự phát triển nhanh chóng và vượt bậc đó mà công nghệ thông tin đã giúp ngành TTTV đạt đến đỉnh cao trong lĩnh vực quản lý thông tin. Đây cũng là nguyên nhân để khai sinh ra ngành mới là Thông tin học.
Sự phát triển song song của Thư viện học và Thông tin học ở những năm đầu thập niên 1970, một ngành học mới được mở ra mà chúng ta quen gọi là Khoa học Thông tin và Thư viện và là tiền thân của ngành TTTV ngày nay. Phải khẳng định rằng, quá trình sử dụng máy tính và kết hợp hệ thống mạng viễn thông là nhân tố tác động tới sự ra đời của Thư viện điện tử Con người luôn có nhu cầu tìm kiếm mọi thông tin trong tất cả các lĩnh vực đời sống hay xã hội. Chính vì lẽ đó mà dẫn đến tình trạng các nguồn thông tin ngày càng có khuynh hướng quá tải và hỗn độn. Chỉ cần chúng ta 8 lên Website gõ một tiêu đề bất kỳ là đã thấy sự xuất hiện rất nhiều các thông tin khác nhau, từ các nguồn khác nhau.
Những nghiên cứu về hoạt động thư viện và quản lí hoạt động thư viện ở trường phổ thông Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (1960) đã chỉ rõ "Về công tác thư viện, cần mở rộng các thư viện hiện có, xây dựng thêm một số thư viện ở các khu công nghiệp, các thị xã và mở rộng phong trào quần chúng đọc sách, báo. Hay trong các văn kiện của Đại hội lần thứ VI nhấn mạnh: "Xây dựng và sử dụng các hệ thống thư viện, câu lạc bộ, nhà văn hóa. từ trung ương đến cơ sở, ở các ngành và các địa phương. Đưa đến tận các đơn vị cơ sở những giá trị văn hóa, nghệ thuật của dân tộc và thế giới, những kiến thức phổ thông và hiện đại về khoa học, kinh tế.
Đưa văn hóa, văn nghệ đến vùng rừng núi và vùng nông thôn hẻo lánh" v. Nhờ có những đường lối và chính sách đúng đắn đó hoạt động thư viện ở nước ta đã có những bước phát triển đáng kể và nó cũng trở thành kim chỉ nam cho mọi hoạt động thư viện của chúng ta thời gian qua. Phải khẳng định rằng thư viện đã có từ rất lâu đời và đối với con người Việt Nam nói riêng nó cũng không hề là một hiện tượng mới. Minh chứng rõ ràng nhất cho lời khẳng định này là từ ngay đầu thế kỉ XI, với sự xuất hiện của “Tàng kinh các” nước ta đã có những thư viện đầu tiên.
Mặc dù xuất hiện từ khá sớm nhưng nhìn chung tốc độ phát triển của các thư viện trong những thời kỳ sau vẫn còn nhiều hạn chế, số lượng các thư viện được xây dựng cũng không có nhiều. Điển hình là trong suốt thời kỳ thống trị nước ta, cùng với chính sách cai trị của mình, thực dân Pháp cũng chỉ xây dựng được 3 thư viện phục vụ cho nhu cầu chung và vài thư viện nhỏ đặt tại các trường Đại học, Viện nghiên cứu hay tại các công sở. Phải đến mãi tháng 8 năm 1945 bắt đầu hoạt động thư viện ở nước ta mới thật sự có những bước phát triển mới. 9 Sau khi giành được độc lập, năm 1945 Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã ký Sắc lệnh số 13 trong đó nội dung chính là chuyển các thư viện công mà trong đó có thư viện Pierre Pasquier về cho Bộ Quốc gia Giáo dục quản lý.
Cũng trong thời gian này, Chính phủ ban hành Sắc lệnh số 21 bầu ông Ngô Đình Nhu giữ vị trí Giám đốc Nha Lưu trữ công văn và Thư viện toàn quốc. Đến ngày 20/10/1945 Thư viện Pierre Pasquier chính thức có tên mới là Quốc gia thư viện. Tiếp đó, đến ngày 31/01/1946, thay mặt cho Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Hồ Chủ tịch đã ký và ban hành rộng rãi Sắc lệnh 18-SL quy định chế độ lưu chiểu nguồn văn hóa phẩm trên toàn cõi Việt Nam [28]. Công tác thư viện đã thật sự được Đảng và Nhà nước xác định là nhiệm vụ trọng tâm ngay sau khi cách mạng tháng Tám năm 1945 giành thắng lợi.
Và không chỉ dừng lại ở đó, đã có rất nhiều những văn bản pháp quy khác được ban hành để phân rõ trách nhiệm của các tổ chức, ban ngành trong hoạt động quản lý thư viện. Đến năm 1970, Hội đồng Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa cho ban hành Quyết định 178 - CP ngày 16/9/1970 "Về công tác thư viện" và Pháp lệnh Thư viện được Ủy ban Thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 28/12/2000 và có hiệu lực thi hành từ 01/04/2001. Như vậy, có thể thấy, đến giai đoạn này, công tác thư viện đã thật sự được chú trọng và quan tâm từ việc quản lý, trợ cấp về kinh phí đến trang thiết bị đều được Nhà nước đặc biệt coi trọng. Không chỉ vậy, đã có rất nhiều những văn bản pháp quy được Nhà nước ban hành nhằm khuyến khích, động viên các nguồn lực chung tay đóng góp tiền của, công sức hay các trang thiết bị để thúc đẩy sự phát triển của hoạt động thư viện.
Do nhu cầu tìm kiếm và thu thập thông tin của người dân cũng như nhận được sự quan đặc biệt từ phía Nhà nước nên mạng lưới thư viện ở nước 10 ta đã được phủ sóng rộng khắp. Thư viện có mặt trong các cơ quan trung ương tới cơ quan cơ sở, xuất hiện từ trong các ban, ngành, đoàn thể với nhiều hình thức và quy mô khác nhau nhằm phục vụ cho công tác lưu trữ và tìm kiếm thông tin của tất cả mọi người. Ở mỗi một thư viện, dù quy mô hay mức độ khác nhau nhưng đều có điểm chung nhất định là tạo nên những điều kiện thuận lợi nhất để người dân có thể tìm kiếm những thông tin mà mình mong muốn. Chính vì vậy mà mạng lưới thư viện cũng bao gồm nhiều hệ thống rất khác nhau, tiêu biểu như: - Trước hết là Thư viện Quốc gia Việt Nam sau đó là thư viện ở 63 tỉnh, thành phố trong cả nước, với 582 thư viện cấp quận, huyện và hơn 6.000 thư viện, phòng đọc sách ở cấp xã, phường, thôn, bản.
Song song cùng hệ thống thư viện công cộng còn có 10.000 tủ sách pháp luật và 8.000 điểm bưu điện - văn hóa cấp xã, phường. - Tiếp theo, để đảm bảo nhu cầu tìm kiếm và lưu trữ các thông tin mang tính đặc thù của các các cơ quan, nhà máy, xí nghiệp tại đây cũng đã hình thành hệ thống thông tin - thư viện. - Cuối cùng phải nói đến hệ thống thư viện thuộc quản lý của Bộ Giáo dục, đây là hệ thống thư viện có quy mô lớn với gần 300 thư viện và các trung tâm thông tin thư viện trực thuộc các trường Đại học và cao đẳng trong cả nước. Với hệ thống thư viện dày đặc như vậy đã nhiều gấp hàng chục lần so với trước năm 1945.
Cùng với sự mở rộng các trường trung học phổ thông, hệ thống thông tin thư viện trường học cũng tăng không ngừng. Có thể nói văn hóa đọc hiện nay đang nhận được sự quan tâm và chú ý đặc biệt của toàn xã hội.