phần mở đầu, kết luận, luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm về quản lý thu thuế thu nhập doanh nghiệp Chƣơng 2: Thực trạng quản lý thu thuế thu nhập doanh nghiệp tại Chi cục thuế TP.Biên Hòa Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện quản lý thu thuế thu nhập doanh nghiệp tại Chi cục thuế TP.Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai 9 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM VỀ QUẢN LÝ THU THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP 1. Cơ sở lý luận về quản lý thu thuế thu nhập doanh nghiệp 1. Khái niệm thu nhập và phân loại thu nhập - Quan niệm về thu nhập: Theo Hoàng Văn Bằng và Tôn Thu Hiền (2011), định nghĩa: “ Thu nhập là tổng giá trị của cải, tài sản và những lợi ích xác định đƣợc dƣới hình thức tiền tệ mà một cá nhân hoặc tổ chức hoặc quốc gia nhận đƣợc từ lao động, đầu tƣ kinh doanh hoặc từ các nguồn khác trong một khoảng thời gian nhất định.” - Phân loại thu nhập: Tuỳ thuộc vào mục đích nghiên cứu, mục tiêu chính sách của một quốc gia mà thu nhập đƣợc quan niệm khác nhau và đƣợc phân loại khác nhau. Theo Hoàng Văn Bằng và Tôn Thu Hiền (2011), dựa vào một số tiêu chí phân loại phổ biến, thu nhập có thể đƣợc phân loại nhƣ sau: + Căn cứ vào nguồn gốc tạo ra thu nhập: thu nhập từ lao động; thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh; thu nhập từ tài sản; thu nhập từ thừa kế; thu nhập từ đầu tƣ; thu nhập từ trúng thƣởng.và các thu nhập khác.
+ Căn cứ vào mục đích sử dụng thu nhập: thu nhập dùng cho tiêu dùng và thu nhậpdùng để tiết kiệm. + Căn cứ vào tính đều đặn hay không đều đặn của việc phát sinh thu nhập của các chủ thể: Thu nhập thƣờng xuyên và thu nhập không thƣờng xuyên. + Căn cứ vào phạm vi lãnh thổ phát sinh thu nhập: thu nhập phát sinh ở trong nƣớc và thu nhập phát sinh ở nƣớc ngoài. + Căn cứ vào chủ thể đƣợc hƣởng thu nhập: Thu nhập quốc gia; thu nhập cá nhân; thu nhập công ty và thu nhập của một tổ chức.
+ Căn cứ vào các quy định của pháp luật về thu nhập, sự hình thành thu nhập: thu nhập hợp pháp và thu nhập bất hợp pháp. + Căn cứ vào mục đích đánh thuế: Thu nhập chịu thuế; thu nhập tính thuế; thu nhập miễn thuế. 10 Việc chia thu nhập nhận đƣợc của các chủ thể thành các loại khác nhau có ý nghĩa quan trọng đối với quản lý thu nhập và hoạch định chính sách điều tiết của Nhà nƣớc, cụ thể là: + Một là: qua phân loại có thể biết đƣợc sự hình thành thu nhập và các khoản chi phí cần thiết để có thu nhập, trên cơ sở đó Nhà nƣớc quy định biện pháp quản lý và điều tiết thu nhập phù hợp. + Hai là, phân loại thu nhập phục vụ cho công tác thống kê trên cơ sở đó Nhà nƣớc có chính sách định hƣớng sản xuất, tiêu dùng, đầu tƣ.phù hợp với từng thời kỳ nhất định.
+ Ba là, trên cơ sở phân loại thu nhập các nhà hoạch định chính sách, xây dựng pháp luật thiết kế các yếu tố kỹ thuật phù hợp để xác định số thuế thu nhập phải nộp của các chủ thể khác nhau. Khái niệm về thuế Sự xuất hiện nhà nƣớc đòi hỏi cần phải có của cải vật chất cần thiết chi cho hoạt động thƣờng xuyên của bộ máy nhà nƣớc nhằm đảm bảo cho nhà nƣớc tồn tại, duy trì quyền lực và thực hiện chức năng quản lý xã hội của mình. Các Mác (1961) đã viết: "Thuế là cơ sở kinh tế của bộ máy nhà nƣớc, là thủ đoạn đơn giản để kho bạc thu đƣợc tiền hay sản vật mà ngƣời dân phải đóng góp để dùng vào mọi việc chi tiêu của nhà nƣớc". Trong điều kiện có các giai cấp, tồn tại chế độ tƣ hữu cùng với phạm vi hoạt động của nhà nƣớc ngày càng mở rộng thì chế độ đóng góp theo phƣơng thức tự nguyện của dân cƣ trong chế độ cộng sản nguyên thủy không còn phù hợp nữa.
Ðể có đƣợc lƣợng của cải cần thiết, nhà nƣớc đã sử dụng quyền lực của mình ban hành pháp luật, ấn định bắt buộc các thể nhân và pháp nhân phải đóng góp cho nhà nƣớc một phần của cải mà họ làm ra và hình thành qũy tiền tệ tập trung của nhà nƣớc. Ban đầu những của cải vật chất này đƣợc thu nộp dƣới hình thức hiện vật, dần dần thuế đƣợc chuyển sang hình thức tiền tệ. Hình thức nhà nƣớc dùng quyền lực buộc dân đóng góp để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của mình - chính là thuế. 11 Theo Phan Thị Cúc, Trần Phƣớc và Nguyễn Thị Mỹ Linh (2007), “Thuế là một trong những biện pháp tài chính bắt buộc nhƣng phi hình sự của Nhà nƣớc nhằm động viên một số bộ phận thu nhập từ lao động, từ của cải, từ vốn, từ các chi tiêu hàng hoá và dịch vụ, từ tài sản của các thể nhân và pháp nhân nhằm tập trung vào tay Nhà nƣớc để trang trải các khoản chi phí cho bộ máy nhà nƣớc và các nhu cầu chung của xã hội.
Các khoản thu qua thuế đƣợc thể chế bằng luật”. Nhƣ vậy ta có thể định nghĩa: Thuế là khoản đóng góp theo luật định của ngƣời nộp thuế cho Nhà nƣớc nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nƣớc. Thuế là một khoản nộp bắt buộc mà các thể nhân và pháp nhân có nghĩa vụ phải thực hiện đối với nhà nƣớc, phát sinh trên cơ sở các văn bản pháp luật do nhà nƣớc ban hành, không mang tính chất đối giá và hoàn trả trực tiếp cho đối tƣợng nộp thuế. Tổ chức hoặc cá nhân nào không thực hiện đúng nghĩa vụ nộp thuế của mình tức là họ đã vi phạm pháp luật của quốc gia đó.
Lý do đánh thuế thu nhập Nhà nƣớc sử dụng tiền thu từ thuế để thực hiện các nhiệm vụ và chức năng của mình: chi tiêu để thi hành pháp luật, bảo vệ tài sản, phát triển kinh tế, xây dựng cở hạ tầng (đƣờng giao thông, xây dựng pháp luật, thực thi hợp đồng.), công trình công cộng, công trình xã hội, và các hoạt động của Nhà nƣớc. Đồng thời, Nhà nƣớc sử dụng các loại thuế cho quỹ phúc lợi và các dịch vụ công cộng. Nhà nƣớc sử dụng các loại thuế với mức thuế khác nhau để phân phối gánh nặng thuế giữa các cá nhân, tổ chức hoặc các tầng lớp xã hội khi có thu nhập chịu thuế nhƣ: đầu tƣ, kinh doanh, hoặc phân phối lại các nguồn lực tài chính khác. Việc phân phối gánh nặng thuế cho các chủ thể trong xã hội cần đảm bảo công bằng, tạo nguồn thu lớn cho ngân sách nhà nƣớc, chi phí quản lý thuế thấp.
Chính vì vậy, trong hệ thống thuế cần phải có nhiều loại thuế với các cơ sở thuế khác nhau: thiếu tiêu dùng, thuế thu nhập, thuế tài sản.loại thuế này bổ sung và khắc phục hạn chế của loại thuế khác. Các sắc thuế đƣợc Nhà nƣớc ban hành tồn tại trong một hệ thống thuế thống nhất, bố sung lẫn nhau trong điều tiết thu nhập, xác định gánh 12 nặng thuế của ngƣời nộp thuế và đâu là giới hạn cuối cùng. Theo Hoàng Văn Bằng và Tôn Thu Hiền (2011), việc đánh thuế thu nhập xuất phát từ những lý do: + Tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nƣớc đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nƣớc để thực hiện các chức năng của mình. + Góp phần điều tiết thu nhập, đảm bảo công bằng xã hội (thực hiện đánh thuế theo nguyên tắc khả năng trả thuế).
+ Điều tiết các hoạt động kinh tế một cách hiệu quả để thúc đẩy nền kinh tế- xã hội phát triển bền vững. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của thuế thu nhập doanh nghiệp Thuế thu nhập doanh nghiệp là thuế tính trên thu nhập chịu thuế của các doanh nghiệp trong kỳ tính thuế. Theo Hoàng Văn Bằng và Tôn Thu Hiền (2011), thuế TNDN ra đời bắt nguồn từ các lý do chủ yếu sau đây: - Thuế TNDN đƣợc sử dụng để điều tiết thu nhập của các nhà đầu tƣ nhằm góp phần đảm bảo công bằng xã hội. - Thuế TNDN là một trong các sắc thuế tạo ra nguồn thu quan trọng cho ngánách nhà nƣớc.
Khi nền kinh tế phát triển, đầu tƣ gia tăng, thu nhập của các DN và của các nhà đầu tƣ tăng lên thì nguồn thutừ thuế TNDN cũng có xu hƣớng ngày càng tăng một cách ổn định và vững chắc. Thuế TNDN có các đặc điểm sau: - Thuế TNDN là một loại thuế trực thu, với đối tƣợng nộp thuế TNDN là các tổ chức hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ có thu nhập chịu thuế theo quy định của Luật thuế TNDN. - Thuế TNDN đƣợc xác định trên cơ sở phần thu nhập chịu thuế, nên thuế TNDN phụ thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp. Doanh nghiệp chỉ phải nộp thuế TNDN khi hoạt động kinh doanh của họ có lợi nhuận.
Thuế TNDN là thuế đƣợc khấu trừ trƣớc thuế thu nhập cá nhân. Thu nhập mà các cá nhân nhận đƣợc từ các hoạt động kinh doanh nhƣ lợi tức cổphần, 13 lợi nhuận do góp vốn liên doanh liên kết, tiền lãi gửi ngân hàng … là phần thu nhập đƣợc chia sau khi nộp thuế thu TNDN. Vai trò của thuế thu nhập doanh nghiệp: - Là khoản thu quan trọng của NSNN: ở Việt Nam, tỷ trọng thuế TNDN trong tổng số thu NSNN hàng năm (trừ dầu thô) chiếm khoảng 20%. Tuy nhiên, cùng với xu hƣớng tăng trƣởng kinh tế, quy mô của các hoạt động kinh tế ngày càng đƣợc mở rộng, hiệu quả kinh doanh ngày càng cao sẽ tạo ra nguồn thu về thuế TNDN ngày càng lớn cho NSNN.
- Là công cụ quan trọng của Nhà nƣớc trong việc điều tiết vĩ mô nền kinh tế : Hệ thống pháp luật về thuế TNDN đƣợc áp dụng chung cho các cở sản xuất kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế tạo ra sự bình đẳng trong cạnh trạnh, góp phần thúc đẩy phát triển sản xuất. Việc xác định phạm vi thu thuế và không thu thuế; quy định mức thuế suất phổ thông và thuế suất ƣu đãi; quy định danh mục các ngành nghề, địa bàn kinh tế - xã hội khó khăn cần ƣu tiên, khuyến khích đầu tƣ, phát triển, sử dụng biện pháp miễn giảm thuế TNDN theo mức độ khác nhau,. thể hiện chính sách ƣu đãi hay khuyến khích và vai trò “bàn tay vô hình” điều tiết sự phát triển nền kinh tế của Nhà nƣớc.