CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THU THUẾ ĐỐI VỚI HỘ KINH DOANH CÁ THỂ 1. Cơ sở lý luận về quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể 1.Một số khái niệm cơ bản - Hộ kinh doanh cá thể; Xét về mặt pháp lý, hộ kinh doanh cá thể được định nghĩa cụ thể trong “Nghị định số 88/2006 NĐ-CP: Hộ kinh doanh do một cá nhân là công dân Việt Nam hoặc một nhóm người hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng không quá mười lao động, không có con dấu và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh” (Chính phủ, 2006). Định nghĩa trên về hộ kinh doanh cho thấy hộ kinh doanh được chia thành ba loại căn cứ vào chủ tạo lập ra nó: “1) Hộ kinh doanh do một cá nhân làm chủ: Cá nhân kinh doanh ở đây được hiểu là công dân Việt Nam đủ 18 tuổi, có năng lực pháp luật đầy đủ được quyền thành lập hộ kinh doanh. Trong hoạt động kinh doanh, cá nhân này phải nhân danh mình và tự chịu trách nhiệm về các hành vi thương mại của mình.
Về bản chất, hộ kinh doanh do một cá nhân làm chủ là một thương nhân thể nhân. 2) Hộ kinh doanh do hộ gia đình làm chủ: Đây là một chủ thể kinh doanh rất riêng của Việt Nam. Đa số các quốc gia trên thế giới không thừa nhận hộ gia đình là một thực thể sản xuất kinh doanh giống như một thương nhân hay một công ty. Việc quy định “hộ gia đình” được kinh doanh dưới hình thức hộ kinh doanh xuất phát từ việc Bộ luật Dân sự 1995 và Bộ luật Dân sự 2015 quy định “hộ gia đình” là chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự.
3) Hộ kinh doanh do một nhóm người làm chủ: Trước đây, việc quy định một nhóm người được đăng ký kinh doanh dưới hình thức hộ kinh doanh lần đầu được qui định tại nghị định 66/HĐBT ngày 3/2/1992 của Hội đồng Bộ Trưởng. Tuy nhiên, đến Nghị định số 02/2000/NĐ-CP ngày 3/2/2000 loại chủ thể này không còn tồn tại. Tuy nhiên, Nghị định số 88/2006/NĐ-CP và Nghị định số 43/2010/NĐ-CP ngày 15/4/2010 lại tiếp tục cho phép một nhóm người được đăng ký kinh doanh dưới hình thức “hộ kinh doanh”. Theo quy định tại khoản 3, Điều 49 Nghị định số 43/2006/NĐ- Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 CP, thì một nhóm người tự nguyện hùn vốn kỹ thuật cùng nhau tiến hành hoạt động kinh doanh, cùng hưởng lãi, cùng chịu lỗ và cùng chịu trách nhiệm về hoạt động kinh doanh của nhóm.
Tuy nhiên, Nghị định này cũng chỉ mới dừng lại ở qui định chung “một nhóm người” được đăng ký kinh doanh dưới hình thức hộ kinh doanh. Nghị định chưa có các quy định cụ thể về chế độ chịu trách nhiệm của các cá nhân trong nhóm, chế độ quản trị hộ kinh doanh. Về số lượng thành viên, mặc dù, pháp luật hiện hành chưa quy định hạn chế số lượng thành viên trong một nhóm nhưng nếu sử dụng hơn mười lao động thì hộ kinh doanh phải đăng ký kinh doanh dưới hình thức doanh nghiệp ” (Chi cục thuế, Báo cáo tổng kết năm 2016, 2017, 2018 Chi cục thuế thị xã Phổ Yên). “Nghị định số 88/2006 NĐ-CP cho phép một nhóm người, không phải là hộ gia đình, được kinh doanh dưới hình thức hộ kinh doanh có tác dụng thúc đẩy kinh doanh nhưng nhược điểm là gây khó khăn về mặt pháp lý, nhất là về chế độ trách nhiệm của cả nhóm và từng thành viên của nhóm” (Chính phủ, 2006).
Mỗi người góp vốn trong hộ kinh doanh đều có mã số thuế thu nhập cá nhân, mã số của người đại diện Hộ kinh doanh được sử dụng khai, nộp thuế GTGT, tiêu thụ đặc biệt, thuế môn bài,… chung cho hộ kinh doanh và khai thuế thu nhập cá nhân cho bản thân người đại diện. Pháp luật Việt Nam hiện nay đang quy định hộ kinh doanh cá thể và các hình thức công ty không khác gì nhau về hình thức kết cấu mà chỉ khác nhau về qui mô kinh doanh. Nếu hộ kinh doanh có sử dụng thường xuyên hơn mười lao động phải chuyển đổi sang hoạt động theo hình thức doanh nghiệp. Như vậy, trong nghiên cứu này, khái niệm hộ kinh doanh cá thể được hiểu là công dân Việt Nam hoặc một nhóm người hoặc một gia đình làm chủ, chỉ được kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng không quá 10 lao động, không có con dấu và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh.
- Thuế “Lịch sử phát triển của loài người đã chứng minh sự ra đời của thuế là một tất yếu khách quan, gắn liền với sự ra đời và phát triển của Nhà nước. Để tồn tại và phát triển, Nhà nước cần có những nguồn tài chính để chi tiêu, chi cho việc duy trì và củng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 cố bộ máy cai trị từ Trung ương đến địa phương thuộc phạm vi lãnh thổ mà Nhà nước đó đang cai quản” (Đỗ Đức Minh, Nguyễn Việt Cường, 2005). (Kiểm toán nhà nước (2018), Biên bản kiểm toán ngân sách, tiền và tài sản Nhà nước năm 2018, Kiểm toán Nhà nước Khu vực X. Stiglitz (một trong những nhà kinh tế xuất sắc nhất thế giới) trong cuốn “tài chính công” cho rằng: “Thuế là 1 khoản trích nộp bằng tiền, có tính chất xác định, không hoàn trả trực tiếp cho công dân đóng góp cho Nhà nước thông qua con đường quyền lực nhằm bù đắp những chi phí của Nhà nước” (Joseph E.
Thuế là một thực thể pháp lý nhân định nhưng sự ra đời và tồn tại của nó không chỉ phụ thuộc vào ý chí con người mà còn phụ thuộc vào các điều kiện kinh tế - xã hội của từng thời kỳ lịch sử nhất định. Hiểu một cách chung nhất “Thuế là hình thức động viên bắt buộc của nhà nước theo luật định nhằm tập trung một bộ phận thu nhập của các cá thể nhân và pháp nhân vào Ngân sách nhà nước để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cơ bản của nhà nước và phục vụ lợi ích cộng đồng” (Trần Ái Kết và các tác giả , 1998). Như vậy, có thể hiểu thuế là một khoản đóng góp bắt buộc của các tổ chức, cá nhân cho Nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định, không mang tính chất hoàn trả trực tiếp, nhằm sử dụng cho mục đích chung của toàn xã hội. “- Quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể Là việc cơ quan thuế dùng các công cụ hành chính của mình tuyên truyền, phổ biến, tác động đến các hộ để theo dõi việc việc nộp thuế của các đối tượng nằm trong diện nộp thuế thuộc các hộ kinh doanh theo các Luật quy định hiện hành để tạo nguồn thu cho NSNN” (Trần Ái Kết và các tác giả, 1998).
“Quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể gồm một số nội dung như: - Tổ chức tuyên truyền, thông tin, giáo dục các quy định, văn bản pháp luật về thuế tới các đối tượng nộp thuế một cách rộng rãi, thường xuyên. - Đảm bảo thu triệt để các nguồn thu, thu hết các nguồn phải thu, không để tình trạng nợ thuế xảy ra. - Thực hiện kiểm tra, giám sát các hộ kinh doanh. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 - Quản lý mọi cá nhân, tổ chức kinh doanh, sản xuất trên địa bàn - Thường xuyên kiểm tra các loại giấy tờ, sổ sách thuế và doanh thu thuế thực - Đảm bảo tuân thủ quy trình, nghiệp vụ mà ngành thuế quy định đối với từng đối tượng kinh doanh cụ thể.
- Cơ quan quản lý thuế bao gồm: Cơ quan Thuế và Hải quan, trong đó: + Cơ quan Thuế gồm: Tổng cục thuế, Cục thuế, Chi cục thuế. + Cơ quan Hải quan gồm: Tổng cục hải quan, Cục hải quan, Chi cục hải quan. - Công chức quản lý thuế bao gồm công chức thuế và công chức hải quan. - Cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến việc thực hiện pháp luật về thuế.
Quản lý thu thuế giúp ngân sách nhà nước ngày càng giàu mạnh, đảm bảo hiệu quả quản lý của nhà nước với các hộ kinh doanh cá thể, thúc đẩy các hộ kinh doanh ngày càng tuân thủ, chấp hành pháp luật và ý thức được rằng mình phải thực hiện đúng các quy định của pháp luật về thuế” (Lê Hồng Hải, 2007). Đặc điểm của quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể “Thuật ngữ quản lý thường được hiểu theo nhiều cách khác nhau tùy vào góc độ khoa học khác nhau cũng như cách tiếp cận của người nghiên cứu. Quản lý là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học xã hội và khoa học tự nhiên. Mỗi lĩnh vực khoa học có định nghĩa về quản lý dưới góc độ riêng của mình và nó phát triển ngày càng sâu rộng trong mọi hoạt động của đời sống xã hội” (Tạp chí thuế nhà nước, 2010).
Theo quan niệm của C.Mác: “Bất kỳ lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào đó mà được tiến hành tuân theo một quy mô tương đối lớn đều cần có sự quản lý ở mức độ nhiều hay ít nhằm phối hợp những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất, sự vận động này khác với sự vận động của các cơ quan độc lập của cơ thể đó. Một nhạc công tự điều khiển mình, nhưng một dàn nhạc phải có nhạc trưởng” [12, tr.Mác quản lý là nhằm phối hợp các lao động đơn lẻ để đạt được cái thống nhất của toàn bộ quá trình sản xuất. Ở đây Mác đã tiếp cận khái niệm quản lý từ góc độ mục đích của quản lý. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Hán Việt từ điển hiện đại cho rằng “Quản lý là sự trông nom, coi sóc, quản thúc, bó buộc ai đó theo một khuôn mẫu, quy định, nguyên tắc, luật pháp đã đề ra” (Trần Thị Thanh Thủy, 2012) Theo F.