Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THÔNG TIN VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC THÁI TRÊN ẤN PHẨM 1. Một số khái niệm liên quan 1.Quản lý thông tin - Quản lý Theo như Từ điển Tiếng Việt: quản lý tức là điều khiển, chỉ đạo một hệ thống hay quá trình vận động theo ý muốn của người quản lý nhằm đạt được những mục tiêu đã định.1363] Tác giả Chester Irving Barnard (1886-1961) thì quan niệm rằng: “Quản lý hiệu quả phải phụ thuộc vào sự duy trì những mối quan hệ tốt đẹp với những người bên ngoài cũng như phụ thuộc vào những người mà nhà quản lý thường xuyên tiếp cận”. Phân giải theo ngôn ngữ Hán Việt, công tác “quản lý” gồm hai khái niệm “quản” và “lý”, là việc thực hiện hai quá trình liên hệ chặt chẽ với nhau. Trong đó, “quản” bao gồm sự chăm sóc, giữ gìn, duy trì hệ thống ở trạng thái ổn định; còn “lý” gồm việc sửa sang, sắp xếp, đổi mới đưa hệ thống đi đến “phát triển”.
Nếu người quản lý chỉ lo việc “quản” thì tổ chức dễ trì trệ vì như vậy người quản lý sẽ chỉ tập trung vào việc chăm sóc, giữ gìn. Nhưng nếu chỉ quan tâm đến việc “lý”, thì hệ thống sẽ phát triển không bền vững. Nói chung, trong “quản” phải có “lý” và trong “lý” phải có “quản”, việc hài hòa giữa “quản” và “lý” giúp cho hoạt động của hệ thống cân bằng. Năm 1999, khi xuất bản cuốn Khoa học Tổ chức và Quản lý, tác Đặng Quốc Bảo nêu: “Quản lý là quá trình lập kế hoạch, hướng dẫn, tổ chức và kiểm tra những nỗ lực của các thành viên trong một tổ chức.
Đồng thời sử dụng những nguồn lực của tổ chức đó để đạt được những mục tiêu cụ thể.102] Từ các định nghĩa, khái niệm nêu trên, ta có thể khái quát rằng: “Quản 16 lý là một sự tác động liên tục, có kế hoạch, có mục đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý để chỉ đạo, liên kết các yếu tố cùng tham gia vào hoạt động tạo thành một chỉnh thể thống nhất, nhằm đạt được mục tiêu, yêu cầu và kết quả mà mình mong muốn”. - Thông tin Theo Đại từ điển Tiếng Việt (NXB Văn hóa - Thông tin do Nguyễn Như Ý chủ biên), thông tin là: (1) tin tức được truyền tai nhau; (2) tin tức về các sự kiện diễn ra trong thế giới xung quanh. Trong Từ điển Bách khoa (NXB Từ điển Bách khoa Hà Nội, 2005), thông tin được định nghĩa là một khái niệm chung về tri thức và hiểu biết có được thông qua nghiên cứu, khảo sát hoặc trao đổi giữa các đối tượng. tượng với nhau.
Tác giả Tạ Ngọc Tấn cho rằng, thông thường, “thông tin” được hiểu là “một loại hoạt động nhằm chuyển tải nội dung thông báo”, hay “đề cập đến chất lượng của nội dung thông báo”. Nhưng khi coi thông tin là một thuật ngữ cơ bản của báo chí thì nó “liên quan trực tiếp đến hiệu quả của các phương tiện thông tin đại chúng, đến yêu cầu về phương pháp và hình thức sáng tạo của nhà báo, đến các nguyên tắc và mối quan hệ tương tác giữa báo chí và công chúng”. Theo Tác giả Tạ Ngọc Tấn, thông tin trong lĩnh vực báo chí được thể hiện xuyên suốt hành trình tác phẩm báo chí đến với công chúng, do đó, thông tin có sự chuyển đổi về phương thức hiện diện, từ “thông tin có thể có” mà báo chí có thể dẫn dắt công chúng đến. “Thông tin được công chúng tiếp nhận” và kết thúc dưới dạng “thông tin thực tế” - đó là những giá trị tạo nên sự khác biệt trên thế giới.
Deborah Potter, Giám đốc Điều hành Trung tâm Dữ liệu Trực tuyến dành cho Nhà báo tại Washington DC - Hoa Kỳ (Newslab), đồng thời là giảng viên báo chí tại Đại học American, đồng thời là giảng viên báo chí tại trường 17 đại học này cho biết. Đại học Mỹ cho rằng báo chí thường được định nghĩa ngắn gọn là "có gì mới, đang xảy ra", nhưng trên thực tế, hầu hết các sự kiện trên thế giới diễn ra hàng ngày đều không được tìm thấy. có được một vị trí trên báo. Hạn chế các trang báo, cuối cùng chỉ cho phép những thông tin xuất hiện trên nhật báo được nhiều độc giả của báo quan tâm.
Theo đó, bà Deborah Potter khẳng định, thông tin trên báo chí khác với thông tin thuộc “khái niệm từ điển” với những đặc điểm riêng biệt, bao gồm: “tính kịp thời”, “tính kịp thời”, “không thường xuyên” hoặc liên quan đến người (sự vật) nổi tiếng, ” gần gũi với độc giả, có liên quan, ảnh hưởng ít nhiều đến họ ”. Như vậy, rõ ràng trong hoạt động truyền thông đại chúng nói chung và hoạt động báo chí nói riêng, thông tin luôn được xem xét trên nhiều khía cạnh chứ không chỉ theo nghĩa đơn thuần là đáp ứng nhu cầu thông tin. có gì mới, nóng, chuyện gì vừa xảy ra, dư luận đang quan tâm điều gì, mỗi thông tin thực sự mang lại giá trị và lợi ích cho nhóm đối tượng công chúng hay cộng đồng nói chung. Trong báo chí, thuật ngữ “thông tin” được hiểu theo nghĩa: “Thông tin là kiến thức được sử dụng để định hướng và tác động đến các hành động tích cực và quản lý xã hội, nhằm thực hiện mục đích duy trì các đặc tính chất lượng, sự hoàn thiện và phát triển của hệ thống.
Thông tin là chức năng chính của báo chí, hiểu theo nghĩa là dùng các phương tiện kỹ thuật để phổ biến kết quả lao động sáng tạo của nhà báo. “Thông tin là một yếu tố của thực hành chiến lược. Nó tạo thành một bộ phận của quyền lực, nó có quyền chuẩn bị và hướng dẫn hành động của công dân ”. Để khẳng định rằng thông tin báo chí là quan trọng, các nhà báo Thụy Điển đã đưa ra khẩu hiệu: “Hãy đưa thông tin đến độc giả! Đó là điều cần thiết ”.
“Nhiều nhà báo quốc tế đã thành danh với những bài báo sắc bén đưa tin về những vấn đề nóng bỏng đang diễn ra trên thế giới, nhưng cũng không ít nhà báo muốn tìm kiếm thông tin đã phải trả giá, không loại trừ. 18 “Trong một thế giới hiện thực tràn ngập thông tin, báo chí có cách phản ánh hiện thực riêng với mục đích tác động đến nhiều tầng lớp xã hội với những sở thích, mối quan tâm và nhu cầu khác nhau”. Báo chí là “kiến tạo thứ hai của thông tin” và phụ thuộc vào “định kiến” (thông tin gốc từ các cấp quyền lực) để tạo ra “sự đồng thuận” trong xã hội, chính điều này đã đưa báo chí trở thành một hoạt động truyền thông đại chúng tích cực và rộng khắp nhất mà không có hình thức nào khác của ý thức xã hội có. Theo Đại từ điển Việt Nam do Nguyễn Như Ý chủ biên: Tổ chức là sự sắp xếp, bố trí các bộ phận để thực hiện một nhiệm vụ hoặc chức năng chung: Sắp xếp, bố trí làm cho trật tự, ngăn nắp; Tiến hành công việc theo bất kỳ cách thức và trình tự nào; Một nhóm người được tổ chức theo một cơ cấu nhất định để hoạt động vì lợi ích chung.
Nói về việc tổ chức thông tin, Jack Hart, Tổng biên tập tờ Oregonian (Mỹ) cho biết: “Việc không tổ chức bài viết sẽ để lại hàng loạt hệ lụy: không đến kịp, bản thảo quá dài, viết không tiến bộ. một khuôn mẫu nhất định hoặc từ từ, không đạt yêu cầu ". Do đó," tổ chức phải là trọng tâm của quá trình giao tiếp. " Theo đó, tổ chức thông tin được hiểu là hoạt động cụ thể của cơ quan báo chí trong việc sắp xếp nội dung thông tin tiếp nhận trên trang báo nhằm đạt được mục tiêu thông điệp.
Theo Hà Huy Phương trong Tổ chức nội dung và thiết kế, trình bày báo in - NXB Lý luận chính trị 2006, tổ chức nội dung báo, tạp chí là việc hoạch định nội dung của từng số báo, báo, tạp chí. sắp được xuất bản, tổ chức thực hiện nhằm đạt được mục đích, mục đích và đáp ứng nhu cầu tiếp nhận thông tin của công chúng mà cơ quan báo chí đang hướng tới. Từ đó, việc tổ chức thông tin có thể liên quan đến việc hoạch định nội dung của từng vấn đề, tổ chức thông tin liên quan đến lĩnh vực chính sách hỗ trợ người dân trong giai đoạn xuất bản Covid-19 để đạt được mục tiêu. , mục đích, đáp ứng nhu cầu tiếp nhận thông tin của công chúng.
19 Theo đó, việc tổ chức thông tin văn hóa có thể được bố trí trong một chuyên trang, gồm nhiều chuyên mục liên quan đến thông tin về các vấn đề, sự kiện liên quan đến thông tin về dịch bệnh, thông tin lý luận, chính sách, nghị định. hoặc các quyết định liên quan đến dịch… Việc tổ chức thông tin dịch bệnh do cơ quan báo chí xem xét để bố trí thông tin sơ cấp và thông tin thứ cấp; khu vực bố trí thông tin dịch bệnh phù hợp, đặc biệt cân nhắc thời gian bố trí (thường là số cuối tuần hoặc chuyên trang trong tuần). Việc tổ chức thông tin dịch bệnh trên báo còn liên quan đến bố cục, cách trình bày trang báo.2 Văn hóa Theo từ điển Tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên, NXB Đà Nẵng – Trung tâm Từ điển học, 2000), “Văn hóa” là một danh từ, có 5 cách hiểu cơ bản: (1) Là những giá trị vật chất, tinh thần do con người sáng tạo ra trong lịch sử; (2) là đời sống tinh thần của con người; (3) là tri thức khoa học, trình độ học vấn; (4) là lối sống, cách ứng xử có trình độ cao, biểu hiện văn minh; (5) là nền văn hóa một thời cổ xưa được xác định nhờ tổng thể các di vật tìm được có những đặc điểm chung.364] Cựu Thủ tướng Phạm Văn Đồng viết: „Nói tới văn hóa là nói tới một lĩnh vực vô cùng rộng lớn, bao gồm tất cả những gì không phải thuộc về thiên nhiên có liên quan đến con người trong suốt quá trình tồn tại, phát triển, quá trình con người làm nên lịch sử. cốt lõi của sức sống dân tộc và văn hóa với nghĩa bao quát và cao đẹp nhất của nó, bao gồm cả hệ thống giá trị tư tưởng và tình cảm, đạo đức và phẩm chất, trí tuệ và tài năng, sự nhạy cảm và sự tiếp thu cái mới từ bên ngoài, ý thức bảo vệ tài sản và bản lĩnh của cộng đồng dân tộc, sức đề kháng và chiến đấu để bảo vệ mình và không ngừng lớn mạnh”.