Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN NGHIÊN CỨU QUẢN LÝ THÔNG ĐIỆP TRÊN BÁO CHÍ 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm “Quản lý” Quản lý là hoạt động không thể thiếu trong bất cứ một tổ chức nào, dù quy mô lớn hay nhỏ, đơn giản hay phức tạp. Quản lý xuất phát từ yêu cầu của sự phân công, hợp tác trong lao động nhằm huy động sức mạnh tập thể để hoàn thành mục tiêu chung.
Thực tiễn cho thấy, quản lý là một đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, bao gồm cả khoa học tự nhiên và khoa học xã hội; khái niệm quản lý có nội hàm xác định nhưng khá phong phú, tùy thuộc vào lĩnh vực, nội dung nghiên cứu, cách thức nghiên cứu mà có cách định nghĩa, giải thích bằng nhiều thuật ngữ khác nhau. Theo nghĩa rộng, quản lý là hoạt động có mục đích của con người, là hoạt động khá phổ biến và diễn ra trên hầu hết mọi lĩnh vực, mọi cấp độ và có liên quan đến mọi người trong cộng đồng xã hội. Trong cuốn Giáo trình khoa học quản lý, Nxb Tư pháp, Hà Nội (2021) do Nguyễn Vũ Tiến (Chủ biên), Vũ Thị Thu Quyên, Trần Thái Hà, Nguyễn Hoàng Diệu Linh có đưa ra định nghĩa: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đã đề ra”. Theo nội dung định nghĩa, quản lý được hiểu và xác định là tác động có tính hướng đích và mục tiêu xác định; thể hiện mối quan hệ tác động qua lại giữa hai bộ phận là chủ thể quản lý và đối tượng quản lý; đó là là sự tác động mang tính chủ quan nhưng phải phù hợp với quy luật khách quan.
Trong tác phẩm “Những vấn đề cốt yếu của quản lý”, Harol Koontz, Cyril O‟‟Donnell và Heinz Weihrich cho rằng: “Quản lý là hoạt động thiết 14 yếu” và “Mục tiêu của mọi nhà quản lý là hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất” [tr. Theo đó, quản lý là nhằm mục tiêu cuối cùng và tối thượng là hướng hoạt động của mỗi cá nhân đơn lẻ để đạt được mục tiêu cuối cùng của tổ chức.Mác thì: “Quản lý là một chức năng đặc biệt nảy sinh từ bản chất xã hội của quá trình lao động” [tr. Theo luận điểm này của C.Mác, quản lý có thể áp dụng đối với mọi hoạt động mang tính chất chung nhất của con người trong các mối quan hệ xã hội liên quan đến quá trình lao động. Theo Từ điển tiếng Việt (2005), “Quản lý là trông coi và giữ gìn theo yêu cầu nhất định; tổ chức điều khiển các hoạt động theo yêu cầu nhất định” [tr.
Theo nghĩa tiếng Anh, quản lý nói chung là “Administration”, quản lý vừa mang tính chất hành chính, chính quyền, vừa có nghĩa quản trị (kinh doanh). Nghiên cứu các nội dung này có thể thấy trong những hoàn cảnh cụ thể khác nhau, thuật ngữ quản lý và quản trị vẫn được dùng với bản chất giống nhau. Xét về từ ngữ, thuật ngữ “Quản lý” (tiếng Việt gốc Hán) có thể hiểu ở 2 khía cạnh; thứ nhất là từ “Quản” nghĩa là sự coi sóc, giữ gìn, duy trì trạng thái “ổn định”, còn “Lý” hàm nghĩa sửa sang, sắp xếp, đổi mới để nhằm mục đích đưa đối tượng vào quá trình phát triển. Đây có thể hiểu là hai quá trình tích hợp vào nhau tạo sự ổn định cho phát triển.
Như vậy, xét ở góc độ chung nhất có thể hiểu: Quản lý là hoạt động nhằm tác động một cách có tổ chức và định hướng của chủ thể quản lý lên một đối tượng quản lý và là mối quan hệ mang tính uy quyền để điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi của con người; là sự tác động mang tính chủ quan nhưng phải bảo đảm phù hợp với các quy luật khách quan nhằm duy trì tính ổn định và phát triển của đối tượng quản lý theo những mục tiêu đã định. 15 Từ việc phân tích những quan niệm trên có thể đưa ra khái niệm chung nhất về quản lý như sau: Quản lý là quá trình tác động có chủ đích, có định hướng, có tổ chức của chủ thể quản lý lên đối tượng/khách thể quản lý nhằm mục đích sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực của tổ chức để đạt được mục tiêu đề ra trong điều kiện, hoàn cảnh cụ thể. Quá trình thực hiện hoạt động quản lý được thông qua hai đối tượng cơ bản là chủ thể quản lý và khách thể quản lý. Từ xác định nội hàm của khái niệm quản lý, luận văn tập trung nghiên cứu, phân tích, làm rõ 4 nội dung trọng tâm liên quan đó là: Về chủ thể quản lý: Chủ thể quản lý thông điệp về người DTTS trên Báo Lào Cai dành cho đồng bào các dân tộc hiện nay là Tỉnh ủy, Ủy ban Nhân dân tỉnh, các cơ quan chuyên môn của tỉnh, Ban biên tập cơ quan Báo Lào Cai.
Đối tượng quản lý: Đối tượng quản lý trong hoạt động quản lý thông điệp về người DTTS là nội dung, hình thức, ảnh báo chí về người DTTS được sử dụng trên ấn phẩm “Báo Lào Cai dành cho đồng bào các dân tộc”. Nội dung quản lý: Là các chủ đề, lĩnh vực cần quản lý trên ấn phẩm “Báo Lào Cai dành cho đồng bào các dân tộc” nhằm đạt được mục tiêu quản lý của chủ thể. Bốn là, phương thức quản lý: Là toàn bộ cách thức tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý và khách thể quản lý trên cơ sở lựa chọn những công cụ và phương tiện phù hợp, hiệu quả nhằm thực hiện hoàn thành mục tiêu của tổ chức. Khái niệm “Thông điệp” Theo cuốn sách Cơ sở lý luận báo chí truyền thông của Dương Xuân Sơn, Đinh Văn Hường, Trần Quang thì: Thông điệp là tin tức được thể hiện bằng tín hiệu, ký hiệu, mã số, bằng mực trên giấy, sóng trên không trung hoặc 16 bằng bất cứ tín hiệu nào mà người ta có thể hiểu được và được trình bày ra một cách có ý nghĩa.
Điều quan trọng đó là thông điệp phải được diễn tả, trình bày bằng thứ ngôn ngữ, hình ảnh mà người cung cấp và người tiếp nhận hiểu được. Đó có thể là ngôn ngữ giao tiếp hằng ngày, ngôn ngữ kỹ thuật trong khoa học hay ngôn ngữ văn học trong nghệ thuật” [tr. Tác giả Nguyễn Văn Dững (Chủ biên), Đỗ Thị Thu Hằng quan niệm về “truyền thông” trong cuốn Truyền thông lý thuyết và kỹ năng cơ bản: “Thông điệp là nội dung thông tin được trao đổi từ nguồn phát đến đối tượng tiếp nhận. Thông điệp chính là những tâm tư, tình cảm, mong muốn, đòi hỏi, ý kiến, hiểu biết, kinh nghiệm sống, tri thức khoa học – kỹ thuật… được mã hóa theo một hệ thống ký hiệu nào đó.
Hệ thống này phải được cả bên phát bà bên nhận cùng chấp nhận và có chung cách viết – tức là có khả năng giải mã. Tiếng nói, chữ viết, hệ thống biển báo, hình ảnh, cử chỉ biểu đạt của con người được sử dụng để chuyển tải thông điệp” [tr. Cũng theo Nguyễn Văn Dững và Đỗ Thị Thu Hằng thì thông điệp bao gồm có 5 yêu cầu chính [tr.245-246]: Thứ nhất, thông điệp phải bảo đảm phù hợp với công chúng- nhóm đối tượng và thể hiện rõ mục tiêu của chiến dịch truyền thông. Yêu cầu quan trọng và cao nhất trong bản thân thông điệp là phải thể hiện rõ và hài hòa giữa mục tiêu truyền thông, tuyên truyền vận động của chủ thể với nhu cầu, mong đợi của nhóm đối tượng.
Từ đó, trước khi xây dựng thông điệp, cần tiến hành nghiên cứu nhóm đối tượng. Đối với nhóm đối tượng làm công việc hoạch định chính sách, nhiệm vụ của thông điệp là cần tạo được sự ủng hộ tích cực việc hoạch định chính sách và chủ trương thuận lợi cho các vấn đề truyền thông, thông qua cam kết chính trị hoặc chương trình hành động. 17 Đối với nhóm công chúng – nhóm đối tượng, thông điệp cần tập trung hướng tới sự thay đổi nhận thức, hành vị và thái độ của họ đối với vấn đề truyền thông. Sự thay đổi này thường thể hiện qua các cấp độ: Chấp nhận, hưởng ứng, tán thành và tin tưởng thông điệp dẫn đến thay đổi nhận thức, thái độ, hành vi phù hợp với mục đích chiến dịch truyền thông cho thông điệp nêu ra.
Đối với cán bộ làm công tác truyền thông, thông điệp cần hướng tới nhằm nâng cao nhận thức, sự hiểu biết qua đó hình thành ý chí quyết tâm và phương pháp, kỹ năng để thực hiện có hiệu quả chiến dịch truyền thông. Thứ hai, thông điệp cần thiết phải phù hợp với đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đây là yêu cầu có tính nguyên tắc đối với tất cả các thông điệp – từ thông điệp truyền thông đến thông điệp có nội dung quảng cáo. Thứ ba, thông điệp bảo đảm phải phù hợp với quy tắc, giá trị xã hội và văn hóa, lối sống của dân tộc cũng như sự phát triển; bên cạnh đó cần đề phòng những hệ quả ngoài ý muốn đối với nhóm đối tượng không thuộc phạm vi gây ảnh hưởng, tác động, nhất là trẻ em.
Thứ tư, thông điệp bảo đảm phải phù hợp với tâm lý ứng xử, tâm trạng xã hội và thể hiện được lợi ích của công chúng hay nhóm đối tượng. Do đó cần có biện pháp truyền thông để nhóm đối tượng thấy được lợi ích khi thực hiện theo thông điệp. Thứ năm, thông điệp phải phù hợp với các kênh truyền thông. Từ những nội dung và phân tích trên có thể thấy thông điệp là những thông tin mang tính chất quan trọng, cốt lõi, ngắn gọn, hàm xúc, cô đọng, ấn tượng mà chủ thể truyền thông muốn đem lại và lưu lại trong tâm trí người tiếp nhận thông tin.
Nó là những yếu tố cần thiết để tạo ra ấn tượng, ảnh 18 hưởng, duy trì và làm thay đổi nhận thức, cảm xúc và hành vi của đối tượng mục tiêu. Nói cách khác, thông điệp có thể được ví như là “linh hồn” của thông tin, của sản phẩm truyền thông. Thông điệp là cái muốn truyền tải và muốn công chúng hiểu được, nhận thức được và từ đó chuyển thành hành động trong thực tiễn.