Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ THÔNG ĐIỆP VỀ HOẠT ĐỘNG TỪ THIỆN CHO TRẺ EM TRÊN BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ 1. Các khái niệm liên quan 1. Thông điệp Theo hướng tiếp cận báo chí, truyền thông, “thông điệp” được đề cập đến là một yếu tố trong quá trình truyền thông. Bởi thế tác giả xin dẫn một số định nghĩa về khái niệm thông điệp như sau: Trong lý luận học báo chí về các mô hình truyền thông đại chúng cơ bản, “thông điệp” là một thành tố đóng vai trò then chốt của chu trình truyền thông.
Theo Mô hình truyền thông của Haroll Laswell: S (source) là nguồn cấp, người khởi xướng, M (message) là thông điệp, nội dung thông báo. Mô hình truyền thông của Haroll Laswell. Mô hình truyền thông của Claude Shannon: Theo lý thuyết thông tin của Claude Shannon thì quá trình truyền thông còn được bổ sung thêm hai yếu tố gồm hiện tượng nhiễu (Noise) và phản hồi (Feedback). Phản hồi được hiểu là sự tác động ngược trở lại của thông tin từ phía người tiếp nhận đối với người truyền tin sau khi nhận được thông điệp.
Nhiễu luôn tồn tại trong quá trình truyền thông dưới nhiều dạng, như cơ học, vật lý, 9 môi trường, tôn giáo, độ tuổi, văn hoá, giới tính, ngôn ngữ. Mô hình truyền thông của Claude Shannon [39,tr30] Nhiễu được coi là quy luật của quá trình truyền thông, có thể gây hiệu ứng tăng hiệu quả truyền thông nếu biết xử lý.TS Tạ Ngọc Tấn, “Thông điệp là những nội dung thông tin được trao đổi từ nguồn phát (người mang nội dung thông tin) đến đối tượng tiếp nhận (cá nhân hoặc tập thể người) nhằm mục đích nhất định. Thông điệp có thể được thể hiện thông qua các ký tự, biểu tượng, ngôn từ, hình ảnh nhưng phải được xây dựng trên nguyên tắc” [62,tr8] Cuốn Truyền thông - Lý thuyết và kỹ năng cơ bản (xuất bản năm 2018) của PGS. TS Nguyễn Văn Dững (Chủ biên) và PGS.
Đỗ Thị Thu Hằng nêu định nghĩa về "thông điệp": “Thông điệp là nội dung thông tin được trao đổi từ nguồn phát đến đối tượng tiếp nhận. Thông điệp chính là những tâm tư, tình cảm, mong muốn, đòi hỏi, ý kiến, hiểu biết, kinh nghiệm sống, tri thức khoa học - kỹ thuật… được mã hóa theo một hệ thống ký hiệu nào đó”[39,tr12] Cũng trong cuốn sách này, chủ biên đã đưa ra mô hình truyền thông như sau: 10 Hình 1. Mô hình truyền thông của nhóm tác giả trong "Truyền thông - Lý thuyết và kỹ năng cơ bản" [39,tr40] Dựa trên những nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước về mô hình truyền thông, trong khuôn khổ luận văn này, tác giả thống nhất sử dụng mô hình truyền thông của hai nhà khoa học là TS Nguyễn Văn Dững và PGS. Đỗ Thị Thu Hằng đưa ra.
Thông qua mô hình trên, ta có thể thấy rõ vị trí của thông điệp trong quá trình truyền thông. Thông điệp là một thành tố cơ bản và là mảnh ghép không thể thiếu của chu trình truyền thông. Cũng trong tài liệu này, tác giả Đỗ Thị Thu Hằng đã chia thông điệp thành các loại như sau: + Thông điệp tài liệu: Loại thông điệp này chứa trong các tài liệu, dữ liệu. dễ nhận biết vì nó biểu hiện cụ thể, có thể nhìn thấy bằng trực quan.
+ Thông điệp ẩn: Loại thông điệp mà nhận biết nó cần phải tư duy tích cực, năng lực trừu tượng hoá, cảm nhận tinh tế và thậm chí sự liên tưởng với những vấn đề kinh tế - văn hoá - xã hội đã và đang đặt ra. + Thông điệp bộ phận: Loại thông điệp cấu thành thông điệp đích của chiến dịch truyền thông. 11 + Cuối cùng là thông điệp đích. Đây là thông điệp của cả chiến dịch truyền thông hướng tới [39,tr15] Căn cứ vào những quan điểm phân tích ở trên về thông điệp, tác giả đồng tình với quan niệm: Thông điệp là suy nghĩ, ý tưởng hay một phát ngôn hoàn chỉnh cả về nội dung lẫn hình thức, được diễn đạt để truyền tải thông tin dành cho một nhóm đối tượng trong hoàn cảnh cụ thể nhằm hướng tới mục tiêu của truyền thông.
Quản lý Trong tiếng Anh, từ Administration vừa có nghĩa quản lý (hành chính, chính quyền), vừa có nghĩa quản trị (kinh doanh). Ngoài ra, còn có một thuật ngữ khác là Management vừa có nghĩa quản lý, vừa có nghĩa quản trị, nhưng hiện nay được dùng chủ yếu với nghĩa là quản trị [50,tr15] Thuật ngữ "quản lý" và "quản trị" vẫn được dùng trong những hoàn cảnh khác nhau để nói lên những nội dung khác nhau, nhưng về cơ bản hai từ này đều có bản chất giống nhau. Khi dùng theo thói quen, chúng ta coi thuật ngữ "quản lý" gắn liền với quản lý nhà nước, quản lý xã hội, quản lý ở khu vực công cộng, tức là quản lý ở tầm vĩ mô, còn thuật ngữ "quản trị" được dùng ở phạm vi nhỏ hơn đối với một tổ chức, một doanh nghiệp (kinh tế). [28,tr17] Các Mác cho rằng “quản lý là một chức năng đặc biệt nảy sinh từ bản chất xã hội của quá trình lao động”, theo đó quản lý là một chức năng tất yếu của lao động xã hội, nó gắn chặt với sự phân công và phối hợp những lao động đơn lẻ thành một quá trình sản xuất thống nhất [28,tr16] Trong xã hội hiện đại, các nhà khoa học quản lý đã nghiên cứu hoạt động quản lý dựa trên cơ sở khoa học và kinh nghiệm thực tiễn của con người để đưa ra khái niệm về hoạt động này.
Cuốn Một số vấn đề quản lý Nhà nước của Trường cán bộ Thanh tra (1998), nêu rõ: “Quản lý là sự tác động, chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các 12 quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người làm cho chúng vận động, phát triển phù hợp với quy luật đạt tới mục đích và theo ý chí của người quản lý hay là sự của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động môi trường”[62,tr14]. Tuy có nhiều quan điểm khác nhau, song có thể thấy điểm chung trong khái niệm quản lý đó là quản lý là một hoạt động xã hội bắt nguồn từ tính chất cộng đồng dựa trên sự phân công và hợp tác để làm một công việc nhằm đạt được mục tiêu chung đề ra. Trong khuôn khổ luận văn, tác giả sử dụng khái niệm quản lý theo cách hiểu là sự tác động có tổ chức, định hướng, kế hoạch một cách liên tục của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý để chỉ huy, điều khiển, liên kết các yếu tố tham gia vào hoạt động thành một chỉnh thể thống nhất, điều hoà hoạt động của các khâu một cách hợp quy luật nhằm đạt đến mục tiêu xác định trong điều kiện cụ thể. Về khái niệm niệm “quản lý thông điệp truyền thông", trong cuốn Một số xu hướng mới của báo chí truyền thông hiện đại (xuất bản năm 2016) của nhóm tác giả Phan Văn Kiền, Phan Quốc Hải, Phạm Chiến Thắng, Nguyễn Đình Hậu, khái niệm này được nhóm tác giả định nghĩa: “Quản lý thông điệp truyền thông là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh một số bộ phận công chúng nhận thức về một vấn đề cụ thể nào đó trong một sự kiện, hiện tượng.”[41,tr22] Từ khái niệm quản lý, thông điệp cùng tham khảo cách định nghĩa của các tác giả cùng lĩnh vực, tác giả đồng tình với quan điểm: Quản lý thông điệp là sự tác động của chủ thể đến việc thiết kế, xây dựng, phổ biến, chuyển tải, đánh giá tác động của thông điệp đến đối tượng nhằm đạt mục tiêu đặt ra.
Hoạt động từ thiện Trong luận văn thạc sỹ báo chí với đề tài "Hoạt động từ thiện của báo chí Thành phố Hồ Chí Minh", tác giả Mộng Liên đưa ra quan niệm về từ thiện như 13 sau: "Trong thời đại bùng nổ thông tin, báo chí càng phát huy vai trò cũng như thế mạnh của mình, đặc biệt vai trò công dân của báo chí. Báo in TPHCM phong phú, đa dạng, có nhiều thành tựu, trong đó có một thành tựu phải ghi nhận là báo in nhiệt tình khởi xướng, tham gia, cổ vũ từ thiện – từ thiện với nhiều hình thức phong phú. Hoạt động từ thiện của báo in TPHCM luôn đồng hành với hơi thở cuộc sống.” [23, tr21] Như vậy hoạt động từ thiện được hiểu theo nghĩa chung nhất chính là việc chăm sóc, hỗ trợ, giúp đỡ người yếu thế trong xã hội. Các hoạt động từ thiện ở cơ quan báo chí cũng được hiểu theo nghĩa này nhưng được gắn với vai trò, chức năng, nhiệm vụ của cơ quan báo chí đó là thông tin, tuyên truyền, phản ánh, cổ vũ, định hướng, dẫn dắt dư luận xã hội.
Như vậy có thể thấy cơ quan báo chí tham gia vào hoạt động từ thiện với 2 vai trò: Vai trò hoạt động từ thiện và vai trò hoạt động báo chí. Nhà báo chính là người tuyên truyền, cổ vũ đồng thời tổ chức, thực hiện các hoạt động từ thiện. -Hoạt động từ thiện trên báo chí: Hiện chưa có khái niệm hay định nghĩa chính thức nào về hoạt động từ thiện trên báo chí. Báo Dân trí gọi đó là các hoạt động xã hội, hoạt động nhân ái.
Theo cách sử dụng thông thường tại Báo Gia đình và xã hội thì các hoạt động thiện nguyện và hoạt động từ thiện tương đương như nhau. Các tờ báo khác như Vietnamnet, Công an Nhân dân, báo Đại đoàn kết và đa số các tờ báo thì coi hoạt động trợ giúp thông qua cơ quan báo chí gọi là hoạt động từ thiện, cứu trợ, ủng hộ. Theo tác giả, hoạt động từ thiện trên báo chí được hiểu là báo chí thực hiện chức năng nhiệm vụ, thực hiện các chức năng vốn có của hoạt động báo chí trong lĩnh vực từ thiện. Đó là định hướng, tuyên truyền, phản ánh, giám sát, phản biện, thông 14 tin, cổ vũ về các hoạt động từ thiện, các phong trào từ thiện, khơi dậy lòng hảo tâm của cộng đồng.
Báo chí tìm tòi, phát hiện những hoàn cảnh khó khăn, yếu thế để kịp thời thông tin kêu gọi hỗ trợ từ cộng đồng qua các bài viết, hình ảnh. Báo chí với khả năng lan toả, tạo dựng dư luận, bằng công cụ và sức mạnh truyền thông thông tin, lên án, đấu tranh với những cái ác, bảo vệ người yếu thế trong xã hội. Ngoài ra, cơ quan báo chí sử dụng uy tín của chính mình để thực hiện các cuộc vận động và trực tiếp tổ chức thực hiện các sự kiện từ thiện này. Như vậy, báo chí vừa đóng vai trò là người tuyên truyền, cổ vũ, thông tin, nhưng cũng vừa là người và trực tiếp thực hiện các hoạt động từ thiện.