Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG QUẢN LÝ THÔNG ĐIỆP BẢO VỆ RỪNG TRÊN CÁC CHƯƠNG TRÌNH CỦA ĐÀI PHÁT THANH VÀ TRUYỀN HÌNH 1. Hệ thống các khái niệm liên quan 1. Thông điệp Trong từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học, thông điệp được xác định như sau: “Thông điệp. Công văn ngoại giao quan trọng do nước này gửi cho một hay nhiều nước khác.
Báo cáo do Tổng thống gửi cho Quốc hội để trình bày tình hình và chính sách. Bức thư ông khai gửi cho mọi người hoặc cho một nhóm người nhất định (thường dùng với nghĩa bóng). TS Tạ Ngọc Tấn cho rằng “Thông điệp là những nội dung thông tin được trao đổi từ nguồn phát đến đối tượng tiếp nhận” [59, tr. Trong cuốn tài liệu Truyền thông lý thuyết và kỹ năng cơ bản, nhóm tác giả Nguyễn Văn Dững, Đỗ Thị Thu Hằng cũng đã đưa ra cách hiểu về “thông điệp” một cách cụ thể: “Thông điệp là nội dung thông tin được trao đổi từ nguồn phát đến đối tượng tiếp nhận” [11, tr.
Trong cuốn Cơ sở lý luận báo chí truyền thông, nhóm tác giả Dương Xuân Sơn, Đinh Văn Hường, Trần Quang đã khái quát hóa quan điểm của nhóm tác giả để đưa ra khái niệm về “thông điệp” như sau: “Thông điệp là tin tức được thể hiện bằng tín hiệu, ký hiệu, mã số, bằng mực, trên giấy, trên không trung hoặc bằng bất cứ tín hiệu nào mà người ta có thể hiểu được và được trình bày ra một cách có ý nghĩa” [56, tr. Qua một số quan điểm của các tác giả đã nêu trên, tác giả luận văn hiểu và đưa ra khái niệm “thông điệp” như sau: Thông điệp là giá trị thông tin cốt lõi, có mục đích và được diễn đạt bằng thứ ngôn ngữ quy ước để người gửi, người nhận có thể hiểu được nhau. Bảo vệ rừng - Môi trường Môi trường hiện nay đang là một trong những vấn đề toàn cầu mà mọi quốc 14 gia phải đối mặt. Sự ô nhiễm, suy thoái và các vấn đề môi trường nghiêm trọng đang đặt con người vào những thách thức khó khăn.
Tại các quốc gia phát triển, nơi nhu cầu sống của người dân cao, và cũng là nơi tài nguyên môi trường, thiên nhiên bị đe dọa hơn cả và đang dần cạn kiệt. Mức độ nghiệm trọng đó lan rộng tới các quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Nhận thức được sự nguy hiểm này, Đảng và Nhà nước ta đang thay đổi dần những chính sách bảo vệ môi trường, tác động dần từ những hành vi nhỏ của mỗi cá nhân, tới những hoạt động kinh tế của các tập thể lớn để làm sao có thể luôn phát triển một cách bền vững. “Môi trường” là một khái niệm mang ý nghĩa nội hàm và có sự bao quát rộng, được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau.
Theo nghĩa rộng, “môi trường” được hiểu là tất cả các nhân tố tự nhiên, xã hội, cần thiết cho sự sống, cần thiết cho sản xuất và trong quá trình phát triển của con người. Theo nghĩa hẹp, “môi trường” chỉ gồm có các nhân tố tự nhiên, nhân tố xã hội mà trực tiếp và liên quan tới chất lượng cuộc sống của con người. Từ điển Tiếng Việt đã giải thích rất cụ thể nghĩa của cụm từ “môi trường”:“Môi trường là toàn bộ những điều kiện tự nhiên, xã hội trong đó con người hay một sinh vật tồn tại, phát triển trong quan hệ với con người, với sinh vật”[69, tr. Luật Bảo vệ Môi trường (số 72/2020/QH14) đã quy định rõ:“Môi trường bao gồm các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, kinh tế, xã hội, sự tồn tại, phát triển của con người, sinh vật và tự nhiên”[51].
Như vậy, ta có thể hiểu và đưa ra khái niệm: Môi trường là toàn bộ các yếu tố tự nhiên và xã hội có tác động đến sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật. - Bảo vệ môi trường Bảo vệ môi trường nghĩa là sử dụng những biện pháp và thực hiện cách làm thế nào để góp phần hạn chế những tác động không tốt tới môi trường như: giảm ô nhiễm môi trường, khắc phục các hiện tượng thời tiết xấu… 15 Luật Bảo vệ môi trường (năm 2020) đã quy định: “Bảo vệ môi trường là điều kiện, nền tảng, yếu tố trung tâm, tiên quyết cho phát triển kinh tế - xã hội bền vững. Hoạt động bảo vệ môi trường phải gắn kết với phát triển kinh tế, quản lý tài nguyên và được xem xét, đánh giá trong quá trình thực hiện các hoạt động phát triển;Bảo vệ môi trường gắn kết hài hòa với an sinh xã hội, quyền trẻ em, bình đẳng giới, bảo đảm quyền mọi người được sống trong môi trường trong lành;Bảo vệ môi trường phải phù hợp với quy luật, đặc điểm tự nhiên, văn hóa, lịch sử, cơ chế thị trường, trình độ phát triển kinh tế - xã hội; Thúc đẩy phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi”[51]. Như vậy có thể hiểu: Bảo vệ môi trường là điều kiện, nền tảng, là yếu tố trung tâm và là điều kiện tiên quyết cho phát triển kinh tế xã hội, bao gồm hoạt động giữ gìn, đảm bảo cân bằng sinh thái và hạn chế những tác động xấu tới môi trường nhằm cải thiện, phục hồi môi trường”.
- Rừng Ngay từ thuở sơ khai, con người đã hiểu và nhận thức rõ khái niệm rừng là gì? Họ hiểu một cách rất đơn giản, rừng gắn liền với đời sống con người, là nơi cung cấp mọi thứ để phục vụ cho cuộc sống của họ. Sau này đã có một số các tác giả đưa ra khái niệm cụ thể về rừng. Luật Lâm nghiệp năm 2017 đã đưa ra thì: “Rừng là một hệ sinh thái bao gồm: các loài thực vật rừng, động vật rừng, nấm, vi sinh vật, đất rừng và các yếu tố môi trường khác” [50]. Từ các khái niệm trên, tác giả đưa ra cách hiểu: Rừng là một quần xã có diện tích lớn, có độ khép tán của quần xã thực vật, bao gồm các yếu tố, đó là: Thực vật tự nhiên hoặc do con người tạo nên, bao gồm những thực vật đặc trưng, những thực vật chính và chiếm ưu thế; Là môi trường cho động vật rừng sống hoang dã; Là nơi trú ẩn của các vi sinh vật.
- Bảo vệ rừng Như chúng ta đã biết, bảo vệ rừng là một nhiệm vụ chiến lược, lâu dài và quan trọng. Mỗi quốc gia phải có sự quan tâm, đầu tư thích đáng, cần sự chung tay và quyết tâm của cả cộng đồng xã hội. 16 Chương IV, Luật Lâm Nghiệp năm 2017, Chính phủ quy định một số nội dung liên quan đến bảo vệ rừng, đó là: Danh mục, chế độ quản lý, bảo vệ thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, động vật rừng quý hiếm. Như vậy, có thể hiểu: Bảo vệ rừng là việc giữ gìn, ngăn chặn việc chặt phá, hủy hoại môi trường sống để rừng phát triển một cách tự nhiên.
Quản lý Khái niệm về quản lý đã được nhiều nhà nghiên cứu đưa ra. Các tác giả cũng đã đưa ra những quan điểm khác nhau: Trong cuốn Cơ sở khoa học quản lý, tác giả Nguyễn Minh Đạo đã đưa ra quan điểm của mình về khái niệm “Quản lý” như sau: “Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý lên khách thể về: Kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội… bằng một hệ thống các luật, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng” [17, tr. Nhóm tác giả Paul Hersey, Ken Blanc Heard, trong cuốn Quản lý nguồn nhân lực (1995), tác giả đã cho rằng: “Quản lý là một quá trình cùng kết hợp làm việc giữa nhà quản lý với người bị quản lý, thông qua hoạt động của cá nhân, của nhóm và huy động các nguồn lực khác để đạt mục tiêu của tổ chức” [72, tr. Tác giả Hanold Koontz, Những vấn đề cốt yếu của quản lý, tác giả rõ ràng trong việc đưa ra quan điểm của mình: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, đảm bảo sự phối hợp những nỗ lực của cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm” [71, tr.
Tổng hợp các quan điểm trên, tác giả luận văn cho rằng: “Quản lý là một sự tác động liên tục, có kế hoạch, có mục đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý để chỉ đạo, liên kết các yếu tố cùng tham gia vào hoạt động tạo thành một chỉnh thể thống nhất, nhằm đạt được mục tiêu, yêu cầu và kết quả mà mình mong muốn”.5 Quản lý thông điệp Quản lý thông điệp là là sự tác động có kế hoạch, có chủ đích của các chủ thể chiến dịch truyền thông đến các nguồn lực, vật lực, quá trình truyền thông nhằm tạo ra thông điệp đạt được hiệu quả đã đặt ra. Quản lý thông điệp là sự tác động có chủ đích, có định hướng của các chủ thể quản lý báo chú truyền thông nhằm tổ chức xuất bản, đăng tải thông tin phù hợp với nguyên tắc quản lý thông điệp, tôn chỉ, mục đích của tòa soạn, tuân theo đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước 1. Truyền hình Hiện nay có nhiều khái niệm, quan niệm về truyền hình. TS Tạ Ngọc Tấn trong cuốn “Truyền thông đại chúng” cho rằng: “Truyền hình là một loại hình phương tiện truyền thông đại chúng chuyển tải thông tin bằng hình ảnh động và âm thanh.
Nguyên nghĩa của thuật ngữ vô tuyến truyền hình (television) bắt đầu từ hai từ tele có nghĩa là “ở xa” và vision là “thấy được”, tức là “thấy được ở xa” [59, tr.TS Dương Xuân Sơn: “Truyền hình là một loại hình truyền thông đại chúng chuyển tải thông tin bằng hình ảnh và âm thanh về một vật thể hoặc một cảnh đi xa bằng sóng vô tuyến điện” [55, tr. Truyền hình ra đời và phát triển do nhu cầu khách quan của xã hội. Truyền hình có khả năng tạo dựng dư luận xã hội nhanh hơn cả vì nó tác động tới công chúng và thông tin mà họ nhìn thấy; nó sẽ ảnh hưởng tới suy nghĩ và hành động của họ trong đời sống. Trong quá trình phát triển, vai trò, vị trí, ảnh hưởng và tác động của truyền hình đối với công chúng nói chung và định hướng dư luận nói riêng ngày càng gia tăng.
Có rất nhiều khái niệm truyền hình được đưa ra, mỗi khái niệm đưa ra được các khía cạnh đặc trưng riêng.