Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THIẾT BỊ DẠY HỌC Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đề tài TBDH là phương tiện vật chất để phục vụ quá trình đổi mới PPDH, giúp giáo viên và học sinh thực hiện có hiệu quả mục tiêu dạy học. TBDH cũng tạo điều kiện trực tiếp cho học sinh phát huy tính tích cực, chủ động, độc lập, sáng tạo trong việc tiếp thu kiến thức, phát triển năng lực góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện ở nhà trường phổ thông. Khi xã hội phát triển, yêu cầu giáo dục ngày càng cao, đòi hỏi việc mua sắm, sử dụng quản lý TBDH được đặt ra cấp thiết.
Vì vậy, vấn đề TBDH và quản lý TBDH được nhiều tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu. Các nghiên cứu ở nước ngoài Nhà giáo dục học, J. Cô-men-xki (1592 - 1670) được coi là một trong những ông tổ về lĩnh vực nghiên cứu sư phạm ở châu Âu và thế giới. Ông là người nêu lên “nguyên tắc vàng” trong dạy học - nguyên tắc trực quan, chủ trương giảng dạy bằng hoạt động, bằng sự quan sát trực tiếp, bằng sự tiếp xúc với sự vật trong đời sống hàng ngày.
Theo ông: “Việc dạy học phải bằng sự vật, hiện tượng. Vì sự vật là thân thể, lời nói là cái ảo… lời nói mà không có sự vật là vỏ không có nhân, bao không có kiếm, bóng không có hình, thân không có hồn” [21]. Sau này, các nhà giáo dục Xô viết như K. Pestalossi người Thụy Sĩ đã phát triển quan điểm dạy học trực quan của J.
Cô-men-xki để đạt hiệu quả cao. Nội dung của quan điểm dạy học trực quan này là thay lối dạy học cũ, kinh viện, nhồi nhét tri thức bằng lối dạy học mới có căn cứ khoa học, thông qua các sự vật hoặc hình ảnh của chúng và e 7 được người học chứng thực trên cơ sở cảm nhận của các giác quan. Mác cho rằng, yếu tố quyết định trình độ hoạt động không phải là tạo ra cái gì, mà là tạo ra cái đó bằng cách nào và bằng phương tiện nào [45]. Theo Xu-khôm-lin-xki: “Nghệ thuật giáo dục là chỗ không chỉ giáo dục bằng các quan hệ giữa người với người, bằng gương sáng và lời nói của nhà giáo dục, bằng những truyền thống được trân trọng giữ gìn trong tổ chức mà còn giáo dục bằng các đồ vật, những của cải vật chất và tinh thần, giáo dục bằng môi trường và cảnh trí do chính học sinh xây dựng nên, đó là cách làm phong phú cuộc sống tâm hồn của học sinh” [56].
Tổ chức lao động quốc tế ADB/ILO (Bangkok 1997) đưa ra 9 tiêu chuẩn và điểm đánh giá cơ sở GD&ĐT để kiểm định các nước thuộc tiểu vùng sông Mê Kông. Trong đó các điều kiện cơ sở hạ tầng của nhà trường: khuôn viên, CSVC-KT và thư viện chiếm 125/500 tổng điểm chung. Country Report on Quality Assurrance in Higher Education, Bangkok - Thailand (1998), đưa ra tỉ lệ đánh giá các điều kiện bảo đảm chất lượng giáo dục của Malaysia với 6 chỉ số trong đó các điều kiện đảm bảo CSVC-KT cho công tác đào tạo chiếm 20% tổng điểm đánh giá chung. Bước vào thế kỷ XXI, hầu hết các nước đều có khuynh hướng hoàn thiện CSVC trường học cho phù hợp với việc hiện đại hóa về nội dung, phương pháp và hình thức dạy học.
Tùy theo hoàn cảnh KT-XH mà mỗi nước có hướng nghiên cứu và phát triển CSVC trường học riêng. Đặc biệt, ở các nước có nền kinh tế phát triển rất quan tâm nghiên cứu thiết kế, sản xuất các TBDH hiện đại, đạt chất lượng cao, cần thiết cho nhu cầu giáo dục. Ở Nga, Hà Lan người ta chú ý trang bị những phương tiện truyền thống cho các phòng học bộ môn; còn ở Đức, Ba Lan, Pháp vấn đề nổi lên là các phương tiện kỹ thuật (PTKT) hiện đại, những bộ thí nghiệm đa năng. Nhật, Triều Tiên, Singapore thì đầu tư rất nhiều cho việc trang bị đầy đủ và hiện đại, nhất e 8 là các phương tiện nghe nhìn.
Ở Mỹ, có giai đoạn phổ biến là dùng máy thay giáo viên trong giảng dạy, nên việc nghiên cứu và việc trang bị các PTDH hiện đại rất quan trọng,… [41, tr. Các nghiên cứu ở Việt Nam Thực trạng và kinh nghiệm trong việc nghiên cứu, thiết kế CSVC trường học nói chung và TBDH nói riêng ở các nước là một trong những cơ sở thực tiễn quan trọng giúp chúng ta trong việc nghiên cứu, thiết kế và định hướng hệ thống CSVC trường học ở Việt Nam. Những năm gần đây, việc đầu tư CSVC nói chung, TBDH nói riêng ở các cấp học phổ thông của nước ta có nhiều chuyển biến tích cực nhằm nâng cao chất lượng dạy và học theo tinh thần đổi mới chương trình, sách giáo khoa. THCS là cấp học nối tiếp bậc tiểu học của hệ thống giáo dục quốc dân, nhằm củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục tiểu học; có trình độ học vấn phổ thông cơ sở và hiểu biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học ở trung học phổ thông (THPT), trung học chuyên nghiệp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động.
Cho nên, việc trang bị TBDH đối với cấp học này cần được coi trọng. Nguyễn Văn Lê với công trình: Khoa học quản lý nhà trường [42], tập trung giới thiệu chung về các phương pháp tổ chức và quản lý nhà trường, trong đó có đề cập đến quản lý CSVC. Riêng về nội dung quản lý CSVC trường học, tác giả đưa ra năm nguyên tắc tổ chức và quản lý cơ sở vật chất trường học, như vấn đề bố trí tối ưu khu trường; việc tổ chức khoa học trong một lớp học; phòng học bộ môn và trang thiết bị phòng học bộ môn; thư viện, phòng thí nghiệm và trang thiết bị,… [42, tr. Chu Mạnh Nguyên với giáo trình: Bồi dưỡng hiệu trưởng trường THCS, tập III [47], đề cập đến quản lý CSVC của hiệu trưởng trường THCS, bao gồm các nội dung: những vấn đề chung về cơ sở vật chất trường học; e 9 những vấn đề chung về quản lý cơ sở vật chất trường học; quản lý trường sở; quản lý TBDH; quản lý thư viện trường học và quản lý đồ dùng học sinh.
Đây là những nội dung giúp người Hiệu trưởng có thể áp dụng trong công tác quản lý CSVC và TBDH ở trường của mình. Nhóm tác giả do Trần Quốc Đắc làm chủ biên với tài liệu: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn của việc xây dựng, sử dụng CSVC và TBDH ở trường phổ thông Việt Nam [28], đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sáng tạo và nâng cao hiệu quả sử dụng CSVC ở trường phổ thông; trong đó đi sâu trình bày những yêu cầu về chất lượng và nâng cao hiệu quả sử dụng TBDH, góp phần đổi mới PPDH các môn học ở trường phổ thông. Các tác giả khẳng định: Sử dụng có hiệu quả TBDH là một nhiệm vụ nặng nề, khó khăn của người thầy giáo, đòi hỏi người thầy giáo phải có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao với yêu cầu sử dụng TBDH. Người giáo viên không những cần hiểu biết về TBDH, về kỹ thuật sử dụng chúng mà còn hiểu sâu về PPDH với yêu cầu sử dụng TBDH: sử dụng TBDH với mục đích gì, lúc nào, liều lượng bao nhiêu; học sinh cần tham gia hoạt động như thế nào khi sử dụng TBDH; sử dụng TBDH như thế nào để khơi dậy lòng say mê học tập, phát huy tính tích cực, sáng tạo và bồi dưỡng nhân cách cho học sinh [28, tr.
Tác giả Tô Xuân Giáp với công trình: Phương tiện dạy học - Hướng dẫn chế tạo và sử dụng [30], đã đưa ra cơ sở phân loại và phân loại phương tiện dạy học (PTDH), cách thức lựa chọn, thiết kế, chế tạo, sử dụng PTDH và các điều kiện để đảm bảo sử dụng có hiệu quả PTDH. Theo tác giả: “Phương tiện dạy học được sử dụng đúng, có tác dụng làm tăng hiệu quả sư phạm của nội dung và phương pháp dạy học lên rất nhiều” [30, tr. Trong cuốn: Quản lý giáo dục [35]do Bùi Minh Hiền (chủ biên), đề cập đến vai trò của TBDH trong sự phát triển giáo dục, phân loại các nhóm TBDH mà người quản lý cần bao quát và đưa ra một số nguyên tắc cùng giải e 10 pháp quản lý TBDH ở trường học trong giai đoạn hiện nay. Một số luận văn thạc sĩ quản lý cũng nghiên cứu vần đề này.
Tiêu biểu như: Lê Thanh Giang với đề tài: Thực trạng và giải pháp quản lý việc sử dụng thiết bị dạy học của giáo viên trường trung học phổ thông tỉnh Cà Mau [29]. Trần Duy Hân với đề tài: Biện pháp quản lý phương tiện dạy học của Hiệu trưởng các trường THCS trên địa bàn thành phố Huế đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục phổ thông hiện nay [33]. Đặng Phúc Tịnh với đề tài: Thực trạng và một số biện pháp quản lý thiết bị dạy học ở các trường trung học cơ sở huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ [53]. Trần Đức Hùng với đề tài: Biện pháp quản lý thiết bị dạy học ở các trường trung học phổ thông tỉnh Quãng Ngãi trong giai đoạn hiện nay [37].
Những công trình nghiên nêu trên đã xây dựng hệ thống lý luận về vị trí, vai trò của TBDH cùng một số yêu cầu sử dụng nó trong quá trình dạy học. TBDH được xác định là một thành tố quan trọng trong quá trình dạy học, nhất là ở cấp THCS, nó đóng vai trò to lớn trong việc đổi mới PPDH hiện nay. Như vậy, TBDH và quản lý TBDH trong nhà trường phổ thông được đề cập trong các giáo trình, công trình nghiên cứu, luận văn thạc sĩ về QLGD nhưng chưa có công trình nào đề cập cụ thể đến việc quản lý TBDH ở các trường THCS tại địa bàn huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định. Đây là cơ sở để chúng tôi kế thừa, tiếp thu và vận dụng vào nghiên cứu đề tài này.
Các khái niệm cơ bản của đề tài luận văn 1. Khái niệm quản lý Trong quá trình phát triển của xã hội loài người từ xưa đến nay, từ thời xã hội nguyên thủy lạc hậu, thấp kém cho đến thời đại cách mạng công nghiệp lần thứ tư, con người biết tập hợp nhau lại để tự vệ, chinh phục thiên nhiên, lao động phục vụ nhu cầu sinh sống. Từ hoạt động lao động cùng nhau của mọi người đã xuất hiện hàng loạt các loại quan hệ (con người với con e 11 người, con người với thiên nhiên, con người với xã hội); qua đó dần dần hình thành những hoạt động có tổ chức, phối hợp và điều khiển đối với họ.