Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ THIẾT BỊ DẠY HỌC Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ ĐÁP ỨNG YÊU CẦU DẠY HỌC THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu về thiết bị dạy học Trên thế giới, thế kỷ XVI đã có những công trình nghiên cứu về TBDH (TBDH), trường phái giáo dục Xô – viết cũng có các nhà giáo dục như Uskinski; A.Pestalossi người Thụy Sĩ đã phát triển quan điểm dạy học trực quan để đạt hiệu quả cao.Xukhomlinski, Nhà sư phạm nổi tiếng của nước Nga trong tác phẩm “Trường trung học Pavlush” (Tổng kết kinh nghiệm công tác giảng dạy – giáo dục trong nhà trường trung học) mới đề cập đến vị trí vai trò TBDH trường học. + Trong cuốn sách “Tổ chức lao động của Hiệu trưởng” tác giả Zakharốp đã trình bày về yêu cầu, điều kiện và tác dụng của TBDH của trường học.
+ Trong cuốn sách “Cơ sở lí luận của khoa học quản lý giáo dục” của các tác giả M. Saxerđôtốp đã đề cập các thiết bị CSVC của trường học (thiết bị của các phòng học, hệ thống các phòng học trong trường phổ thông…) đồng thời cũng nêu ra yêu cầu và cách thức quản lý các thiết bị nhưng mang tính chất khái quát. Trong những năm gần, có một số nghiên cứu có đề cập đến TBDH: Evaluation rating criteria for the VTE Instituation. ADB/ILO-Bangkok 1997, đưa ra 9 tiêu chuẩn và điểm đánh giá cơ sở giáo dục – đào tạo: Trong đó, các điều kiện cơ sở hạ tầng của nhà trường, khuôn viên, TBDH và thư viện chiếm 125/500 tổng điểm chung + Country report on Quality Asuarance in Higher Education, Bangkok – Thailand, 1998, đưa ra tỷ lệ đánh giá các điều kiện bảo đảm chất lượng giáo dục của Malaysia với 6 chỉ số: Trong đó, các điều kiện đảm bảo về TBDH cho công tác đào tạo chiếm 20% tổng điểm đánh giá chung.
Các nghiên cứu về quản lý thiết bị dạy học Kế thừa và phát huy các lý thuyết về giáo dục của nền giáo dục học thế giới, Việt Nam cũng có nhiều nghiên cứu về TBDH và quản lý việc sử dụng TBDH. Đối với công tác dạy học, TBDH là công cụ lao động sư phạm của GV và HS, những yếu tố không thể thiếu trong QTDH. Với tư cách là công cụ lao động sư phạm của GV và HS, trong những trường hợp sử dụng đúng qui trình, phù hợp với đặc trưng của từng bộ môn, TBDH đóng vai trò cung cấp nguồn thông tin cho HS trong học tập, tạo ra nhiều khả năng để GV trình bày nội dung bài học một cách sâu sắc, thuận lợi, hình thành được ở HS những phương pháp học tập tích cực, chủ động. Về vấn đề này, có thể kể đến các công trình nghiên cứu của các tác giả: Trần Văn Long với đề tài: “Thực trạng và giải pháp quản lý CSVC các trường tiểu học ở Tỉnh Khánh Hòa”, (2012) tác giả đánh giá thực trạng quản lý CSVC các trường tiểu học để xác định được các giải pháp có tính khoa học và khả thi trong quản lý CSVC các trường tiểu học, góp phần phát triển dạy học 2 buổi/ngày, nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục tiểu học phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Khánh Hòa.
Trần Duy Hân với đề tài: “Biện pháp quản lý phương tiện dạy học của Hiệu trưởng các trường THCS trên địa bàn thành phố Huế đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục phổ thông hiện nay”(2013) – Tác giả đã nghiên cứu lý luận và đánh giá thực trạng việc quản lý phương tiện dạy học của Hiệu trưởng, xác lập các biện pháp quản lý phương tiện dạy học có hiệu quả của Hiệu trưởng nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở các trường THCS trên địa bàn thành phố Huế, đáp ứng yêu cầu giáo dục phổ thông hiện nay. Lê Thanh Giang với đề tài: “Thực trạng và giải pháp quản lý việc sử dụng TBDH của GV trường trung học phổ thông tỉnh Cà Mau”, (2011) – Tác giả đã khảo sát và phân tích thực trạng quản lý và sử dụng TBDH ở một số trường THPT tỉnh Cà Mau, từ đó đề xuất một số giải pháp quản lý việc sử dụng TBDH của GV nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng TBDH ở các trường THPT tỉnh Cà Mau. Tô Xuân Giáp với công trình: “Phương tiện dạy học – Hướng dẫn chế tạo và sử dụng”, (1997) – Tác giả đã đưa ra cơ sở phân loại và phân loại phương tiện dạy học, cách thức lựa chọn, thiết kế, chế tạo, sử dụng phương tiện dạy học và các điều 7 z kiện để đảm bảo sử dụng có hiệu quả phương tiện dạy học. Theo tác giả: “ Phương tiện dạy học được sử dụng đúng, có tác dụng làm tăng hiệu quả sư phạm của nội dung và PPDH lên rất nhiều”.
Trong giáo trình: “Lý luận dạy học ở trường THCS” do Nguyễn Ngọc Bảo và Trần Kiểm viết đã dành một chương (Chương 5) để viết về phương tiện dạy học. Theo tác giả, phương tiện dạy học có ý nghĩa quan trọng trong việc vận dụng PPDH. Bên cạnh việc đổi mới nội dung, PPDH, hiện nay các trường THCS đã được trang bị nhiều phương tiện dạy học. Vì vậy, GV cần phải nắm được khái niệm phương tiện dạy học, các loại phương tiện dạy học, cách sử dụng, bảo quản từng loại phương tiện dạy học, đặc biệt là phương tiện dạy học kỹ thuật.
Trong cuốn: “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn của việc xây dựng, sử dụng CSVC và TBDH ở trường phổ thông Việt Nam” do Trần Quốc Đắc chủ biên, tác giả đã đưa ra các quan điểm làm cơ sở cho việc sử dụng TBDH, xác định vị trí, vai trò của CSVC và TBDH ở trường phổ thông. Các tác giả nhận định: “TBDH phải được sử dụng, hiệu quả sử dụng là mục tiêu cơ bản nhất và là mục tiêu duy nhất của toàn bộ công tác thiết bị trường học. Sử dụng có hiệu quả TBDH là một nhiệm vụ nặng nề, khó khăn của người thầy giáo. Điều này, đòi hỏi người thày giáo phải có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cao với yêu cầu sử dụng TBDH.
Người GV không những cần hiểu biết về TBDH, về kỹ thuật sử dụng chúng mà còn hiểu sâu về PPDH với yêu cầu sử dụng TBDH: sử dụng TBDH với mục đích gì, lúc nào, liều lượng bao nhiêu, đặc điểm tâm lý HS ra sao; HS cần tham gia hoạt động như thế nào khi dạy học có sử dụng TBDH, sử dụng TBDH như thế nào để khơi dậy lòng say mê học tập, phát huy tính tích cực, năng lực sáng tạo và bồi dưỡng nhân cách cho HS”. Trong cuốn: “Quản lý giáo dục” do Bùi Minh Hiển chủ biên, ở chương 10, tác giả đã đề cập đến vai trò của TBDH trong sự phát triển hệ thống giáo dục quốc dân, phân loại các nhóm TBDH mà người quản lý cần bao quát và đưa ra một số nguyên tắc cùng giải pháp quản lý TBDH ở trường học trong giai đoạn hiện nay. Giáo trình: “Bồi dưỡng Hiệu trưởng trường trung học cơ sở”, tập 3 cho Chu Mạnh Nguyên chủ biên, ở bài 22 tác giả đã nêu những vấn đề chung về CSVC – TBDH và công tác quản lý về CSVC - TBDH. Đây là những nội dung giúp người 8 z Hiệu trưởng có thể áp dụng trong công tác quản lý CSVC và TBDH ở trường của mình.
Những công trình nghiên cứu của tác giả nêu trên đã xây dựng được một hệ thống lý luận về vai trò, tác dụng của TBDH cùng một số yêu cầu và nguyên tắc sử dụng nó trong QTDH. TBDH được xác định là một thành tố quan trọng trong QTDH, nhát là ở cáp THCS, nó đóng vai trò to lớn trong việc đổi mới PPDH hiện nay. Lý luận về TBDH đã được làm sáng tỏ trong nhiều công trình nghiên cứu và trong các giáo trình về lý luận dạy học. Tuy vậy, trong các hướng nghiên cứu trên, lĩnh vực nghiên cứu quản lý TBDH ở các trường THCS thành phố Phủ Lý - tỉnh Hà Nam đáp ứng yêu cầu dạy học theo hướng phát triển năng lực chưa được nghiên cứu đầy đủ.
Do vậy, chúng tôi đi sâu tìm hiểu vấn đề này để tiếp tục nghiên cứu và đề xuất các giải pháp để nâng cao hiệu quả quản lý TBDH trong giai đoạn hiện nay. Một số khái niệm cơ bản 1. Quản lý Quản lý hình thành và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội loài người. Đây là một loại hình hoạt động đặc biệt và quan trọng nhất trong các hoạt động của con người.
Khi con người có những nhận thức đúng về quy luật và vận động theo quy luật sẽ đạt hiệu quả cao trong quản lý. Bàn đến khái niệm quản lý có nhiều cách tiếp cận khác nhau. Bản thân khái niệm quản lý có tính đa nghĩa nên có sự khác biệt giữa nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Hơn nữa, do sự khác biệt về thời đại, xã hội, chế độ, nghề nghiệp nên quản lý cũng có nhiều giải thích, lý giải khác nhau.
Cho đến nay, vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về quản lý. Đặc biệt là kể từ thế kỷ 21, các quan niệm về quản lý lại càng phong phú. Quan niệm của các tác giả nước ngoài về quản lý Theo lý luận của Chủ nghĩa Mác – Lê nin về quản lý : “Quản lý xã hội một cách khoa học là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đối với toàn bộ hay những hệ thống khác nhau của hệ thống xã hội trên cơ sở nhận thức và vận dụng đúng đắn những quy luật khách quan vốn có của nó nhằm đảm bảo cho nó hoạt động và phát triển tối ưu theo mục đích đặt ra”. Theo Hanold Koontz – Cyric Odonnell - Heinz Weihrich trong cuốn “Những vấn đề cốt yếu của quản lý” cho rằng “Quản lý là hoạt động đảm bảo sự nỗ lực của 9 z cá nhân để đạt được mục tiêu quan trọng điều kiện chi phí thời gian, công sức, tài liệu, vật liệu, ít nhất và đạt được kết quả cao nhất”.
Ở góc độ quản lý với tư cách là một chức năng xã hội dưới dạng chung nhất thì quản lý được xác định là cơ chế để thực hiện sự tác động có mục đích nhằm đạt được những kết quả nhất định. Đề cập đến hoạt động quản lý, người ta thường nhắc đến ý tưởng sâu sắc của Các Mác: “Một nghệ sĩ vỹ cầm thì tự điều khiển mình còn dàn nhạc thì cần nhạc trưởng”. Còn ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu về khoa học quản lý cũng bàn nhiều về khái niệm quản lý.