CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THIẾT BỊ DẠY HỌC Ở HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Xuất phát nhận thức được tầm quan trọng của phát triển giáo dục đối với sự phát triển của một quốc gia, trong đó, phát triển giáo dục không thể bỏ qua công tác quản l thiết bị dạy học nhằm đáp ứng các yêu cầu ngày càng cao của u hướng hội nhập giáo dục quốc tế như hiện nay, nhiều đề tài nghiên cứu về thiết bị dạy học và quản l thiết bị dạy học trong các trường học nói chung đã được nghiên cứu, trong đó bao gồm các sách, giáo trình, các báo cáo khoa học, các bài viết trên các tạp chí, các luận án, luận văn,….của nhiều tác giả từ các đơn vị uy tín tại nhiều nước trên thế giới. Nhà giáo dục học vĩ đại Tiệp Khắc Kômensky (1592 - 1679) đã đặt nền móng đầu tiên cho dạy học trực quan, với quan điểm cơ bản là: Dạy học được bắt đầu từ quan sát sự vật, hiện tượng, quá trình.
Trong tác phẩm: “Phép dạy học vĩ đại ” ông viết: “ ái gì có thể tri giác được hãy để cho nhìn, cái nghe được hãy để cho nghe…đó là quy tắc vàng đối với trẻ em, đối với dạy học.” Cùng với sự phát triển của các tư tưởng trong lĩnh vực tâm lý, giáo dục học, lý thuyết về dạy học trực quan cũng có những bước tiến mới. Người ta đã nhận thức được rằng vai trò của phương tiện trực quan dạy học không chỉ dừng ở việc giúp người học nhận biết hiện tượng mà còn nắm được bản chất của sự vật hiện tượng. Một trong những đại diện của tư tưởng này, có thể kể đến tâm lý học Xô - viết hiện đại. Trong hệ thống tư tưởng của mình về hoạt động và hoạt động trí óc (bên trong và bên ngoài), Leontiev đã đưa ra quan điểm về cơ sở tâm lý học của nguyên tắc dạy học trực quan.
8 Từ sau đại chiến thế giới thứ hai (1939-1945) ở Liên Xô (cũ) đã thực hiện khẩu hiệu: “Điện ảnh hoá quá trình học tập”. Ở hật Bản từ năm 1960 đã tổ chức nghiên cứu mẫu và sản xuất phim giáo khoa dùng trong nhà trường, năm 1984 nước Nhật có 29 trung tâm nghe nhìn. Ở Mỹ và các nước Châu Âu cũng như một số nước trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương như Inđônêxia, Thái Lan, Philippin, Singapo. người ta thay thế dần tranh trong sách giáo khoa in trên giấy bằng các hình ảnh trên màn ti vi.
Như vậy lượng thông tin cung cấp phong phú và hấp dẫn hơn, việc bảo quản, vận chuyển và sử dụng có mặt thuận lợi hơn. Hiện nay nhiều nước trên thế giới nghiên cứu, sử dụng rộng rãi đĩa hình và bước đầu sử dụng nternet trong giáo dục. Năm 1984 hội nghị quốc tế về dạy học lần thứ 39 họp tại Giơ-ne-vơ cũng như nhiều hội nghị về TBDH ở các nước đã khẳng định ngành giáo dục cần phải được đổi mới thường xuyên về mục đích, cấu trúc, nội dung, TBDH và phương pháp để tạo diều kiện cho tất cả các sinh viên đều có những cơ hội học tập. Tuỳ theo hoàn cảnh kinh tế, kỹ thuật và xã hội tất cả các nước trên thế giới đều có khuynh hướng hoàn thiện CSVC và TBDH nhằm phù hợp với sự hiện đại hoá nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học.
Các nước có nền kinh tế phát triển đều quan tâm đến việc nghiên cứu, thiết kế, sản xuất các TBDH hiện đại đạt chất lượng cao, cần thiết cho nhu cầu phát triển mỗi nước. Các nghiên cứu ở trong nước Trong xu thế hội nhập quốc tế mạnh mẽ hiện nay, nền giáo dục Việt am cũng đang theo xu hướng hội nhập ngày càng mạnh và sâu vào nền giáo dục quốc tế. Để đạt được các mục tiêu này, chiến lược phát triển giáo dục nước ta cũng đã chú trọng đến các nội dung về xây dựng, hoàn thiện, nâng cấp cũng như quản lý hiệu quả về thiết bị dạy học (TBDH) trong các nhà trường. Vì vậy, những năm qua, đề tài nghiên cứu về vấn đề này cũng nhận được nhiều 9 sự quan tâm từ các học giả trong nước.
Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu tiêu biểu như sau: Tác giả Phạm Minh Hạc trong cuốn sách “Một số vấn đề về quản lý giáo dục và khoa học quản lý giáo dục”, Nhà xuất bản giáo dục, Hà nội, năm 1986, đã tập trung khai thác các vấn đề về quản lý giáo dục và khoa học quản lý giáo dục, trong đó nhấn mạnh vai trò và các nội dung của quản lý thiết bị dạy học của hiệu trưởng trong các nhà trường nói chung.(Phạm Minh Hạc, 1986) Các tác giả Bùi Minh Hiển (Chủ biên), Vũ Ngọc Hải, Đặng Quốc Bảo với giáo trình “Quản lý giáo dục”, Nhà xuất bản Đại học Sư phạm Hà Nội năm 2006. Trong cuốn sách này các tác giả đã tập trung làm rõ các vấn đề về quản lý trong giáo dục, trong đó cũng có các vấn đề về quản lý thiết bị dạy học trong các nhà trường. (Bìu Minh Hiền, 2006) Lê Bảo Sơn “Biện pháp quản lý cơ sở vật chất tại trường Đại học Hùng Vương trong giai đoạn hiện nay”, Luận văn thạc sỹ Quản lý giáo dục, Đại học Sư phạm Hà Nội, năm 2010. Trong công trình này, tác giả đã khái quát lý luận về quản lý CSVC, đánh giá thực trạng quản lý CSVC và đưa ra 5 biện pháp quản lý cơ sở vật chất ở Trường Đại học Hùng Vương.
(Lê Bảo Sơn, 2010) Lê Văn Trường “Các biện pháp quản lý hệ thống cơ sở vật chất – thiết bị dạy học của trường Cao đẳng Tài chính – Quản trị kinh doanh Hưng Yên”, Luận văn thạc sỹ Quản lý giáo dục, Đại học Sư phạm Hà Nội, năm 2008. Trong công trình này, tác giả khái quát lý luận về quản lý cơ sở vật chất – thiết bị dạy học, đặc biệt tác giả đã đề cập đến thiết bị dạy học và quản lý thiết bị dạy học ở trường cao đẳng, đại học. Từ đó khảo sát, đánh giá thực trạng và đề xuất 5 biện pháp quản lý cơ sở vật chất – thiết bị dạy học ở Trường Cao đẳng Tài chính – Quản trị kinh doanh Hưng Yên. (Lê Văn Trường, 2008) 10 Nhìn chung, số lượng các công trình nghiên cứu về thiết bị dạy học và quản lý thiết bị dạy học trong các nhà trường tương đối đa dạng, bao gồm các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước, nhiều bài báo, nghiên cứu khoa học được đăng tải trên các tạp chí, đặc san chuyên ngành, thông tin rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng.
Tuy nhiên, ở Học viện Phật giáo Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh, vấn đề quản lý TBDH vẫn chưa được quan tâm nghiên cứu nghiên cứu một cách hệ thống. Các khái niệm chính của đề tài 1. Quản lý và quản lý giáo dục - Quản lý Quản lý là thuật ngữ được hiểu theo những khía cạnh khác nhau, tùy theo góc độ tiếp cận nghiên cứu đối tượng. Do vậy, mỗi lĩnh vực tiếp cận, mỗi khoa học khác nhau có những quan niệm khác nhau về quản lý.
Thuật ngữ “quản lý” thường được hiểu theo những cách khác nhau tuỳ theo góc nhìn khác nhau cũng như cách tiếp cận của người nghiên cứu. Theo Từ điểm Tiếng Việt thì “ Quản lý là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định” hoặc “Trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định (Trung tâm Từ điển học, 2008, p. Trong các khái niệm này mới chỉ ra sự cần thiết phải có quản lý khi có sự phối hợp hoạt động của nhiều người và mục đích của quản lý, chưa chỉ ra phương thức tiến hành quản lý. Điều này có nghĩa là tổ chức có trước quản lý.
Từ đó, chúng ta có thể quan niệm quản lý là tổ chức và điều khiển các hoạt động của chủ thể quản lý đối với đối tượng quản lý một cách có định hướng, có tổ chức, có kế hoạch theo những yêu cầu nhất định nhằm phát huy tối đa hiệu quả thực hiện của đối tượng quản lý. Vì thế, mỗi chủ thể tương ứng với khách thể và mục tiêu đưa ra khác nhau sẽ có phương thức quản lý khác nhau, cũng như bối cảnh xã hội và mức độ đầy đủ của các nguồn lực cũng là các yếu tố chi phối đến hoạt động quản lý. 11 - Quản lý giáo dục Quản lý giáo dục là một khái niệm được đề cập trong nhiều tài liệu, nghiên cứu. Có thể khái lược một số quan điểm sau: Theo Từ điển giáo dục học thì Quản lý giáo dục có 2 nghĩa: Theo nghĩa rộng thì quản lý giáo dục là thực hiện việc quản lý trong lĩnh vực giáo dục; Còn theo nghĩa hẹp thì quản lý giáo dục, chủ yếu là quản lý giáo dục thế hệ trẻ, giáo dục nhà trường, giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân.
Như vậy, quản lý giáo dục là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến các khâu, các quá trình của hệ thống nhằm mục đích bảo đảm việc hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ. Theo Đặng Quốc Bảo thì quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát “là điều hành, phối hợp các lực lượng nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển của xã hội” (Đặng Quốc Bảo, 2006, trang 32). Trần Kiểm quan niệm quản lý giáo dục ”là hệ thống những tác động tự giác, có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, phụ huynh học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường ” (Trần Kiểm, 1997, trang 22). Tiếp cận trên phương diện hoạt động của một tổ chức, tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: “Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm cho hệ thống vận hành theo đường lối nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” (Nguyễn Ngọc Quang, 1989, trang 36).