Quản lý thiết bị dạy học đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông tại các trường thcs trên địa bàn huyện bù đốp tỉnh bình phước

Chuyên khảo giáo dục phân tích Quản lý thiết bị dạy học đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông tại các trường thcs trên địa, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng

Chuyên ngành

Quản lý giáo dục

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2020

150
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Vai trò quản lý thiết bị dạy học trong đổi mới giáo dục Bù Đốp

Trong bối cảnh ngành giáo dục đang thực hiện đổi mới căn bản và toàn diện theo tinh thần Nghị quyết số 29-NQ/TW, vai trò của trang thiết bị dạy học (TBDH) trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Đây không còn đơn thuần là công cụ hỗ trợ mà là một yếu tố cốt lõi, quyết định sự thành công của việc chuyển đổi từ phương pháp truyền thụ kiến thức một chiều sang phát triển phẩm chất và năng lực người học. Việc quản lý thiết bị dạy học một cách khoa học và hiệu quả là nhiệm vụ cấp thiết, đặc biệt tại các địa bàn còn nhiều khó khăn như huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phước. Một hệ thống cơ sở vật chất trường học đầy đủ, hiện đại và được khai thác đúng mục đích sẽ tạo ra môi trường học tập tích cực, giúp học sinh chủ động chiếm lĩnh tri thức và rèn luyện kỹ năng. Nghiên cứu của Nguyễn Văn Hảo (2020) đã chỉ ra rằng, đầu tư và quản lý TBDH hiệu quả tại các trường THCS huyện Bù Đốp không chỉ giúp thực hiện thành công Chương trình giáo dục phổ thông 2018 mà còn góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện tại một huyện biên giới, tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển nguồn nhân lực địa phương.

1.1. Tầm quan trọng của TBDH đối với Chương trình GDPT 2018

Chương trình giáo dục phổ thông 2018 đặt mục tiêu cốt lõi là phát triển năng lực học sinh. Để đạt được mục tiêu này, phương pháp dạy học phải thay đổi, chuyển từ việc trang bị kiến thức sang tổ chức các hoạt động để học sinh tự khám phá và vận dụng. Trong quá trình đó, thiết bị dạy học đóng vai trò là phương tiện không thể thiếu. Các đồ dùng dạy học, mô hình, dụng cụ thí nghiệm trong phòng thí nghiệm, phòng thực hành giúp hiện thực hóa các kiến thức lý thuyết, tạo điều kiện cho học sinh “học đi đôi với hành”. Việc sử dụng TBDH hiện đại còn giúp giáo viên tổ chức các hoạt động dạy học đa dạng, hấp dẫn, đặc biệt trong các lĩnh vực cần sự trực quan sinh động như giáo dục STEM, qua đó kích thích sự sáng tạo và hứng thú học tập của học sinh.

1.2. Bối cảnh giáo dục và kinh tế tại huyện Bù Đốp Bình Phước

Bù Đốp là một huyện miền núi, biên giới của tỉnh Bình Phước, với điều kiện kinh tế - xã hội còn nhiều thách thức. Trong những năm qua, được sự quan tâm của Sở GD&ĐT Bình Phước và chính quyền địa phương, Phòng GD&ĐT huyện Bù Đốp đã nỗ lực đầu tư cải thiện cơ sở vật chất trường học. Tuy nhiên, thực tế cho thấy hệ thống TBDH tại nhiều trường THCS vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu tối thiểu. Công tác quản lý vẫn còn những bất cập, chưa phát huy hết giá trị của các trang thiết bị hiện có. Do đó, việc nghiên cứu và đề xuất các biện pháp quản lý phù hợp với thực tiễn địa phương là vô cùng cần thiết để tối ưu hóa nguồn lực hạn hẹp, đảm bảo mọi học sinh đều có cơ hội tiếp cận với các phương pháp giáo dục tiên tiến.

II. 04 Thách thức trong quản lý thiết bị dạy học tại trường THCS

Qua khảo sát thực trạng quản lý thiết bị dạy học tại các trường THCS trên địa bàn huyện Bù Đốp, nghiên cứu đã chỉ ra nhiều tồn tại và thách thức cần được giải quyết. Những hạn chế này không chỉ đến từ yếu tố khách quan như nguồn kinh phí eo hẹp mà còn xuất phát từ các yếu tố chủ quan trong nhận thức và công tác quản lý. Một số cán bộ quản lý và giáo viên chưa nhận thức sâu sắc về vai trò của TBDH trong việc đổi mới phương pháp giảng dạy. Tình trạng trang thiết bị dạy học vừa thiếu, vừa yếu, lại không đồng bộ diễn ra khá phổ biến, làm giảm đáng kể hiệu quả sử dụng thiết bị dạy học. Bên cạnh đó, công tác lập kế hoạch, kiểm tra, đánh giá việc sử dụng và bảo quản thiết bị còn bị buông lỏng, dẫn đến tình trạng lãng phí và hư hỏng. Việc khắc phục những thách thức này đòi hỏi một giải pháp tổng thể, đồng bộ từ cấp quản lý đến từng giáo viên đứng lớp, nhằm đưa công tác quản lý TBDH đi vào nề nếp và thực chất.

2.1. Thực trạng quản lý Hạn chế về nhận thức và cách chỉ đạo

Một bộ phận không nhỏ cán bộ quản lý và giáo viên vẫn còn tư duy theo lối mòn, chưa xem việc sử dụng TBDH là yêu cầu bắt buộc để nâng cao chất lượng bài giảng. Thói quen “dạy chay, học chay” vẫn tồn tại, một phần do tâm lý ngại sử dụng thiết bị phức tạp hoặc do thiếu sự chỉ đạo quyết liệt từ ban giám hiệu. Công tác quản lý đôi khi còn mang tính hình thức, thiếu các kế hoạch sử dụng chi tiết và cụ thể cho từng môn học. Việc kiểm tra, đánh giá chưa thường xuyên, dẫn đến tình trạng giáo viên sử dụng TBDH không đều đặn, hiệu quả thấp và thiếu sự thống nhất trong các tổ chuyên môn.

2.2. Tình trạng cơ sở vật chất trường học thiếu và xuống cấp

Thực trạng TBDH tại nhiều trường THCS huyện Bù Đốp chưa đáp ứng đủ danh mục thiết bị dạy học tối thiểu theo quy định của Bộ GD&ĐT. Nhiều thiết bị sau một thời gian sử dụng đã xuống cấp, hư hỏng nhưng không được sửa chữa, thanh lý TBDH kịp thời. Tình trạng thiếu đồng bộ giữa các thiết bị gây khó khăn trong việc tổ chức các bài thực hành, thí nghiệm phức hợp. Các phòng học bộ môn, phòng thí nghiệm, phòng thực hành tuy đã được đầu tư nhưng trang bị bên trong còn sơ sài, chưa phát huy hết công năng, ảnh hưởng trực tiếp đến việc phát triển năng lực học sinh.

2.3. Khó khăn về nguồn kinh phí cho mua sắm và bảo quản thiết bị

Nguồn kinh phí dành cho mua sắm trang thiết bị mới và sửa chữa còn rất hạn hẹp, chủ yếu trông chờ vào ngân sách nhà nước. Công tác xã hội hóa giáo dục nhằm huy động các nguồn lực khác chưa thực sự hiệu quả. Điều này dẫn đến việc các trường không thể chủ động trong việc trang bị, bổ sung những TBDH hiện đại, phù hợp với xu thế chuyển đổi số trong giáo dục. Kinh phí hạn hẹp cũng ảnh hưởng đến công tác bảo quản thiết bị, thiếu các vật tư cần thiết để bảo dưỡng định kỳ, làm giảm tuổi thọ của tài sản.

III. 05 Biện pháp quản lý TBDH toàn diện cho trường THCS Bù Đốp

Để khắc phục những hạn chế và nâng cao chất lượng quản lý thiết bị dạy học tại các trường THCS huyện Bù Đốp, cần triển khai đồng bộ một hệ thống các biện pháp quản lý mang tính chiến lược và thực tiễn. Các giải pháp này phải tác động toàn diện từ việc nâng cao nhận thức, cải thiện cơ chế đầu tư, cho đến việc tối ưu hóa quy trình khai thác và bảo quản. Mục tiêu cuối cùng là biến TBDH thành công cụ đắc lực, hỗ trợ giáo viên đổi mới phương pháp và giúp học sinh phát triển toàn diện năng lực. Các biện pháp đề xuất không chỉ tập trung vào việc mua sắm trang thiết bị mới mà còn chú trọng phát huy nội lực, khuyến khích sự sáng tạo của đội ngũ giáo viên và học sinh. Việc xây dựng một cơ chế quản lý tài sản công minh bạch, hiệu quả trong nhà trường là nền tảng để các giải pháp này phát huy tác dụng lâu dài, đáp ứng yêu cầu của đổi mới giáo dục.

3.1. Nâng cao nhận thức về vai trò TBDH cho cán bộ và giáo viên

Biện pháp tiên quyết là phải thay đổi tư duy. Nhà trường cần tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên đề, các lớp bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên để phổ biến sâu rộng về tầm quan trọng của TBDH trong việc thực hiện Chương trình giáo dục phổ thông 2018. Các văn bản chỉ đạo của Sở GD&ĐT Bình PhướcPhòng GD&ĐT huyện Bù Đốp cần được triển khai nghiêm túc. Việc nâng cao nhận thức sẽ giúp mỗi giáo viên chủ động, tích cực hơn trong việc khai thác và sử dụng đồ dùng dạy học, xem đây là trách nhiệm chuyên môn của mình.

3.2. Tăng cường đầu tư đa dạng hóa nguồn kinh phí mua sắm TBDH

Các trường cần chủ động xây dựng kế hoạch đầu tư, mua sắm trang thiết bị trung và dài hạn dựa trên thực trạng quản lý và nhu cầu thực tế. Kế hoạch này cần được trình lên cấp trên để xin hỗ trợ ngân sách. Song song đó, cần đẩy mạnh công tác xã hội hóa, kêu gọi sự chung tay của phụ huynh, doanh nghiệp và các mạnh thường quân. Việc đa dạng hóa nguồn kinh phí sẽ giúp nhà trường giảm bớt sự phụ thuộc vào ngân sách, linh hoạt hơn trong việc trang bị các TBDH cần thiết, đặc biệt là các thiết bị phục vụ giáo dục STEM và tin học.

3.3. Khuyến khích giáo viên sưu tầm và tự làm đồ dùng dạy học

Phong trào tự làm đồ dùng dạy học là một giải pháp sáng tạo và hiệu quả để khắc phục tình trạng thiếu thốn trước mắt. Ban giám hiệu cần xây dựng cơ chế khuyến khích, hỗ trợ kinh phí và vật liệu cho giáo viên, học sinh. Tổ chức các hội thi TBDH tự làm cấp trường, cấp huyện không chỉ tạo ra nhiều sản phẩm hữu ích, chi phí thấp mà còn là dịp để giáo viên giao lưu, học hỏi kinh nghiệm. Đưa tiêu chí về tự làm TBDH vào đánh giá thi đua hàng năm sẽ thúc đẩy phong trào đi vào chiều sâu và thực chất.

IV. Hướng dẫn khai thác và sử dụng TBDH để tối ưu hiệu quả

Việc đầu tư mua sắm TBDH sẽ trở nên vô nghĩa nếu chúng không được khai thác và sử dụng một cách hiệu quả. Do đó, công tác quản lý cần tập trung vào việc xây dựng quy trình khai thác TBDH một cách khoa học, đảm bảo mọi thiết bị đều phát huy tối đa công năng. Trọng tâm của giai đoạn này là nâng cao năng lực sử dụng TBDH cho đội ngũ giáo viên và xây dựng một cơ chế giám sát chặt chẽ, minh bạch. Hiệu quả sử dụng thiết bị dạy học không chỉ được đo bằng tần suất mượn - trả, mà phải được đánh giá thông qua tác động thực tế đến chất lượng giờ học và khả năng tiếp thu của học sinh. Một quy trình quản lý sử dụng tốt sẽ đảm bảo tính công bằng, tạo động lực cho giáo viên và biến TBDH thành một phần không thể thiếu trong mỗi tiết dạy, đặc biệt tại các phòng học bộ môn chuyên dụng.

4.1. Xây dựng kế hoạch sử dụng TBDH chi tiết theo từng môn học

Hiệu trưởng cần chỉ đạo các tổ chuyên môn xây dựng kế hoạch sử dụng TBDH cụ thể cho từng bài, từng chương trong chương trình học. Kế hoạch này phải được thể hiện rõ trong giáo án của giáo viên. Việc lập kế hoạch chi tiết giúp đảm bảo TBDH được sử dụng đúng lúc, đúng mục đích, tránh tình trạng sử dụng tùy tiện, hình thức. Đồng thời, nó cũng là cơ sở để nhân viên phụ trách thiết bị chuẩn bị và sắp xếp đồ dùng dạy học một cách khoa học, phục vụ tốt nhất cho công tác giảng dạy.

4.2. Tổ chức bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên về kỹ năng sử dụng

Nhà trường cần thường xuyên tổ chức các lớp bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên về kỹ năng sử dụng các TBDH mới, hiện đại. Có thể mời chuyên gia hoặc cử giáo viên cốt cán đi tập huấn rồi về chia sẻ lại kinh nghiệm. Việc bồi dưỡng cần tập trung không chỉ vào thao tác kỹ thuật mà còn cả phương pháp tích hợp TBDH vào bài giảng sao cho tự nhiên và hiệu quả. Đặc biệt, cần chú trọng đào tạo kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin và các thiết bị hỗ trợ cho chuyển đổi số trong giáo dục.

4.3. Đẩy mạnh kiểm tra đánh giá để cải tiến công tác quản lý

Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát thông qua dự giờ, thăm lớp và kiểm tra sổ sách mượn trả TBDH. Ban giám hiệu và tổ trưởng chuyên môn cần có những đánh giá định kỳ về hiệu quả sử dụng thiết bị dạy học. Kết quả kiểm tra phải được công khai, dùng làm căn cứ để khen thưởng những cá nhân, tập thể làm tốt và nhắc nhở, hỗ trợ những trường hợp còn hạn chế. Hoạt động này giúp đưa công tác quản lý đi vào thực chất, tránh tình trạng buông lỏng.

V. Quy trình bảo quản và sửa chữa thiết bị dạy học chuyên nghiệp

“Của bền tại người” – TBDH chỉ có thể phát huy giá trị lâu dài nếu được bảo quản thiết bị và bảo dưỡng đúng cách. Quản lý thiết bị dạy học không chỉ dừng lại ở việc mua sắm và sử dụng mà còn phải bao gồm cả một quy trình quản lý vòng đời tài sản chuyên nghiệp. Việc xây dựng một quy chế bảo quản, bảo dưỡng, sửa chữa rõ ràng là vô cùng cần thiết. Nó không chỉ giúp kéo dài tuổi thọ của thiết bị, tiết kiệm nguồn kinh phí cho nhà trường mà còn đảm bảo TBDH luôn ở trong tình trạng sẵn sàng phục vụ. Công tác này đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa ban giám hiệu, nhân viên phụ trách thiết bị và mỗi giáo viên sử dụng. Việc chuẩn hóa quy trình này là một phần quan trọng của công tác quản lý tài sản công tại đơn vị, thể hiện sự chuyên nghiệp và tinh thần trách nhiệm.

5.1. Thiết lập quy chế bảo quản thiết bị phòng chống hư hỏng

Mỗi nhà trường cần xây dựng và ban hành nội quy, quy chế cụ thể về việc bảo quản thiết bị. TBDH cần được sắp xếp trong các kho, tủ một cách khoa học, có dán nhãn, dễ tìm, dễ lấy. Sau mỗi lần sử dụng, giáo viên phải có trách nhiệm vệ sinh và bàn giao lại cho nhân viên thiết bị. Cần trang bị các phương tiện phòng chống ẩm mốc, mối mọt, cháy nổ. Hàng năm, phải tổ chức kiểm kê tài sản định kỳ để nắm rõ số lượng và tình trạng của TBDH, làm cơ sở cho việc lên kế hoạch bảo dưỡng và mua sắm bổ sung.

5.2. Tối ưu công tác sửa chữa và thanh lý TBDH đúng quy định

Khi phát hiện TBDH hư hỏng, cần có quy trình báo cáo và xử lý nhanh chóng. Nhà trường nên trích một phần kinh phí để phục vụ công tác sửa chữa, thanh lý TBDH. Đối với những hỏng hóc nhỏ, có thể huy động giáo viên hoặc nhân viên có chuyên môn tự khắc phục. Đối với những thiết bị hư hỏng nặng, không còn khả năng sửa chữa, cần làm thủ tục thanh lý theo đúng quy định về quản lý tài sản công để thu hồi vốn hoặc giải phóng không gian lưu trữ. Sự kịp thời trong sửa chữa sẽ đảm bảo TBDH không bị gián đoạn phục vụ, nâng cao hiệu quả sử dụng thiết bị dạy học.

VI. Định hướng quản lý TBDH Bù Đốp đáp ứng chuyển đổi số

Nhìn về tương lai, công tác quản lý thiết bị dạy học tại huyện Bù Đốp cần có những bước đi đột phá, gắn liền với xu thế chung của ngành giáo dục cả nước, đặc biệt là chuyển đổi số trong giáo dục. Việc quản lý không chỉ là đảm bảo đủ số lượng thiết bị dạy học tối thiểu, mà phải hướng đến việc xây dựng một hệ sinh thái học tập thông minh. Điều này đòi hỏi một tầm nhìn chiến lược từ các cấp quản lý, sự sẵn sàng đổi mới của đội ngũ giáo viên và một lộ trình đầu tư bài bản, có trọng tâm. Các khuyến nghị từ nghiên cứu cần được Sở GD&ĐT Bình PhướcPhòng GD&ĐT huyện Bù Đốp xem xét, cụ thể hóa thành các chính sách và chương trình hành động thiết thực. Mục tiêu là xây dựng một nền giáo dục hiện đại, rút ngắn khoảng cách giữa miền núi và đồng bằng, chuẩn bị cho học sinh Bù Đốp những hành trang tốt nhất để bước vào tương lai.

6.1. Tích hợp công nghệ và chuyển đổi số vào quản lý giáo dục

Trong tương lai, việc đầu tư cần ưu tiên cho các thiết bị công nghệ cao như bảng tương tác thông minh, máy chiếu đa vật thể, các phòng lab phục vụ giáo dục STEM. Công tác quản lý cũng cần được số hóa, ví dụ như sử dụng phần mềm để quản lý việc mượn-trả, theo dõi tần suất sử dụng và tình trạng của TBDH. Việc tích hợp chuyển đổi số trong giáo dục sẽ giúp quy trình quản lý trở nên minh bạch, hiệu quả và giảm tải công việc hành chính cho nhân viên thiết bị, đồng thời cung cấp dữ liệu chính xác cho việc ra quyết định của lãnh đạo.

6.2. Khuyến nghị chính sách cho Sở và Phòng GD ĐT huyện Bù Đốp

Dựa trên kết quả nghiên cứu, cần có những khuyến nghị cụ thể. Đối với Sở GD&ĐT Bình Phước, cần tăng cường phân bổ ngân sách cho các huyện khó khăn như Bù Đốp, ban hành các văn bản hướng dẫn chi tiết hơn về công tác quản lý TBDH trong bối cảnh mới. Đối với Phòng GD&ĐT huyện Bù Đốp, cần tăng cường chỉ đạo, kiểm tra các trường trong việc thực hiện các biện pháp quản lý; tổ chức nhiều hơn nữa các lớp tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên và nhân viên thiết bị; đồng thời có chính sách khen thưởng, động viên kịp thời để thúc đẩy phong trào sử dụng TBDH một cách hiệu quả.

04/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, mục lục, danh mục các chữ viết tắt và các bảng phụ lục, luận văn đƣợc trình bày trong 3 chƣơng: Chƣơng 1 Cơ sở lý luận về quản lý thiết bị dạy học đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông ở trƣờng THCS Chƣơng 2: Thực trạng quản lý thiết bị dạy học đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông ở các trƣờng THCS trên địa bàn huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phƣớc. Chƣơng 3: Biện pháp quản lý TBDH đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông ở các trƣờng THCS trên địa bàn huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phƣớc. 6 PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LU N VỀ QUẢN LÝ THIẾT BỊ DẠY HỌC ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC PHỔ THÔNG Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC 1. Tổng quan lịch sử vấn đề nghiên cứu về quản lý thiết bị dạy học 1.

Các nghiên cứu ở nước ngoài Trực quan trong dạy học là một trong những nguyên tắc lý luận dạy học, đƣợc nghiên cứu xuyên suốt qua các thời kỳ triết học: Trực quan trong triết học cổ đại, trực quan trong triết học siêu hình cận đại, trực quan trong triết học biện chứng duy tâm, trực quan trong triết học duy vật biện chứng. Trong lịch sử giáo dục thế giới quan điểm sự phát triển của lý thuyết về phƣơng tiện dạy học (đặc biệt là phƣơng tiện trực quan), vai trò của phƣơng tiện, thiết bị dạy học đã đƣợc phát hiện và phát triển từ rất sớm. Các nhà giáo dục đã chứng minh rằng khuyến khích học sinh nhận thức thế giới thông qua chính những giác quan của mình là phƣơng pháp dạy học phù hợp với sự phát triển tâm sinh lý của trẻ và do vậy nó là phƣơng pháp hữu hiệu nhất giúp trẻ phát triển tƣ duy: nhận biết hiện tƣợng và tiến tới nắm đƣợc bản chất của sự vật hiện tƣợng. Cùng với sự phát triển của các tƣ tƣởng trong lĩnh vực tâm lí, giáo dục học, lí thuyết về dạy học trực quan đă có những bƣớc tiến mới, nhận thức đƣợc vai trò quan trọng của phƣơng tiện - thiết bị dạy học trực quan.

Tính trực quan trong dạy học đóng vai trò minh họa trong bài giảng của giáo viên, giúp học sinh không chỉ nhận biết đƣợc hiện tƣợng mà còn nắm rõ bản chất của hiện tƣợng. Thiết bị dạy học - phƣơng tiện dạy học trực quan, có vai trò to lớn trong quá trình nhận thức của học sinh. Theo Lênin, quy luật nhận thức của con ngƣời là “Từ trực quan sinh động đến tƣ duy trừu tƣợng, từ tƣ duy trừu tƣợng đến thực tiễn”. Theo tài liệu của Dự án Việt - Úc về đào tạo giảng viên (VAT): Kiến thức thu đƣợc qua nghe là 11%, qua nhìn là 81%, qua các giác quan khác là 9%.

Kiến thức nhớ đƣợc qua nghe là 20%, qua nhìn là 30%, qua nghe và nhìn là 50%, qua nói là 80%, qua nói và làm là 90%. Trên thế giới đã có một số công trình nghiên cứu về TBDH, quản lý và sử dụng TBDH. Nhà giáo dục vĩ đại ngƣời Tiệp khắc J.Komenski (1592 – 1679) đã đặt nền móng đầu tiên cho dạy học trực quan, với quan điểm là: Dạy học đƣợc bắt 7 đầu từ việc quan sát sự vật, hiện tƣợng, quá trình. Trong tác phẩm “Phép dạy học vĩ đại”, ông viết “.

không có gì trong trí não nếu như trước đó không có gì trong các cảm giác. Vì thế tất nhiên bắt đầu dạy học không thể từ sự giải thích bằng lời về các sự vật mà phải từ sự quan sát trực tiếp chúng. Lời nói không bao giờ được đi trước sự vật”. Nhƣ vậy, Komenski đề cao một phƣơng pháp dạy học khuyến khích ngƣời học tự lĩnh hội tri thức bằng chính những giác quan của mình.

Ông nhấn mạnh: “cái có thể tri giác được hãy để cho học sinh tri giác bằng các giác quan của chúng, cái nhìn được hãy để cho nhìn, cái nghe được hãy để cho nghe. Đó là quy tắc vàng đối với trẻ em, đối với người học”. Komenski đã tổng kết và phát triển kinh nghiệm về trực quan và đem áp dụng một cách có ý thức vào quá trình dạy học. Nhà giáo dục học ngƣời Thụy Sĩ J.Pestalogie (1746 – 1827) đã phát triển nguyên tắc dạy học trực quan của Komenski với tƣ tƣởng chỉ rõ mối quan hệ hữu cơ giữa tri giác cảm tính với sự phát triển tƣ duy.

Pestalogie đã đƣa ra yêu cầu tổ chức quan sát sự vật, hiện tƣợng trong quá trình dạy học xuất phát từ tâm lý của trẻ em. Nhà hoạt động giáo dục, văn hóa nổi tiếng ngƣời Nga Belinski (1811 – 1848) lại đi tìm sự gắn kết của việc dạy học trực quan với các đặc điểm sinh lý thần kinh của con ngƣời. Dựa trên các đặc điểm duy vật, ông xem “các giác quan và bộ não của con người là hai lực lượng cần thiết cho nhau”. Ông nói: Nhà sƣ phạm trong quá trình dạy học cần phải dựa trên những biểu tƣợng của trẻ đã thu nhận đƣợc trong quá trình quan sát thế giới hiện thực.

Nhà giáo dục học ngƣời Nga Usinski (1824 – 1870) tiếp tục phát triển nguyên tắc dạy học trực quan dựa trên các thành tựu mới về tâm lý học và sinh lý học. Ông khẳng định: “không có cái gì có thể giúp anh san bằng bức tường ngăn cách giữa giáo viên và học sinh như là việc anh đưa cho học sinh xem và giải thích nó.đứa trẻ suy nghĩ bằng hình dạng, bằng màu sắc, âm thanh và bằng cảm giác nói chung”. Nhà tâm lý học A.Leontiev (1903– 1979), ông là một đại diện xuất sắc thuộc trƣờng phái tâm lý học Xô-Viết hiện đại.Leontiev đã đƣa ra quan điểm về cơ sở tâm lý học của nguyên tắc dạy học trực quan. Một phƣơng tiện dạy học sẽ thể hiện vai trò cụ thể gì trong quá trình lĩnh hội tri thức của trẻ? Một phƣơng tiện dạy học và nội dung tri thức mà trẻ nhận thức và lĩnh hội đƣợc nằm trong mối quan hệ nào? Theo quan điểm đó, A.Leontiev đã chia phƣơng tiện dạy học thành hai loại: Phƣơng tiện dạy học dùng để mở rộng kinh nghiệm, cảm tính của trẻ và phƣơng 8 tiện dạy học dùng để khám phá bản chất của đối tƣợng.

Ông phân tích: “Phương tiện dạy học làm chỗ dựa bên ngoài cho các hành động bên trong của đứa trẻ dưới sự lãnh đạo của giáo viên trong quá trình đứa trẻ nhận thức” và “chính đứa trẻ nghiên cứu không phải vật nổi hay chìm mà quy luật của sự nổi – Định luật Acsimet. Nó nghiên cứu không phải sự đốt nóng mà là các định luật về trao đổi nhiệt”. Hội nghị Quốc tế về giáo dục lần thứ 39 họp tại Giơ-ne-vơ năm 1984 cũng nhƣ nhiều hội nghị về TBDH ở các nƣớc xã hội chủ nghĩa đã khẳng định ngành giáo dục cần đƣợc đổi mới thƣờng xuyên về mục đích, cấu trúc, nội dung, TBDH và phƣơng pháp để tạo cho tất cả các học sinh có những cơ hội học tập. Tùy theo hoàn cảnh kinh tế, kỹ thuật và xã hội mà tất cả các nƣớc trên thế giới đều có khuynh hƣớng hoàn thiện CSVC và TBDH nhằm phù hợp với sự hiện đại hoá nội dung, phƣơng pháp và hình thức tổ chức dạy học.

Các nƣớc có nền kinh tế phát triển đều quan tâm đến việc nghiên cứu, thiết kế, sản xuất các TBDH hiện đại, đạt chất lƣợng cao, cần thiết cho nhu cầu giáo dục mỗi nƣớc. Từ sau đại chiến thế giới thứ hai (1939- 1945) ở Liên Xô (cũ) đã thực hiện khẩu hiệu: “Điện ảnh hoá quá trình học tập”. Ở Nhật Bản từ năm 1960 đã tổ chức nghiên cứu mẫu và sản xuất phim giáo khoa dùng trong nhà trƣờng, năm 1984 nƣớc Nhật có 29 trung tâm nghe nhìn. Năm 1992 kết quả điều tra về trang bị máy tính ở Nhật Bản cho thấy bậc tiểu học đƣợc 50%, bậc THCS đƣợc 86,1%, bậc THPT đƣợc 99,4%.

Ở Mỹ và các nƣớc Châu Âu cũng nhƣ một số nƣớc trong khu vực Châu Á nhƣ: Inđônêxia, Thái Lan, Philippin, Xingapo, ngƣời ta thay thế dần tranh trong sách giáo khoa in trên giấy bằng các hình ảnh trên màn ti vi. Nhƣ vậy lƣợng thông tin cung cấp phong phú và hấp dẫn hơn, việc bảo quản, vận chuyển và sử dụng có mặt thuận lợi hơn. Hiện nay nhiều nƣớc trên thế giới nghiên cứu, sử dụng rộng rãi đĩa hình và internet. Trong cuốn sách “Phƣơng tiện kỹ thuật dạy học và ứng dụng” – nhà xuất bản Đại học Minxcơ – 1985.

Trong tài liệu này, các tác giả đã đề cập đến nhiều vị trí, vai trò, chức năng và các loại phƣơng tiện kỹ thuật dạy học. Tài liệu cũng nêu ra đƣợc những ứng dụng cụ thể, chi tiết của phƣơng tiện kỹ thuật dạy học trong quá trình dạy học. Tài liệu là cơ sở nghiên cứu cho lĩnh vực TBDH và quản lý, sử dụng thiết bị dạy 9 học ở nƣớc ta. Tuy nhiên tài liệu này mang tính tổng quát, khó vận dụng vào điều kiện kinh tế của Việt Nam.

Các nghiên cứu ở Việt Nam Hiện nay giáo dục nƣớc ta đang đổi mới một cách toàn diện từ mục tiêu, nội dung đến phƣơng pháp dạy học.Định hƣớng cơ bản của công cuộc đổi mới giáo dục đã đƣợc chỉ rõ trong các nghị quyết của Trung ƣơng Đảng, đó là: “Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học, bồi dưỡng năng lực tự học, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên”; “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục và đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện nếp tư duy sáng tạo của người học. Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học”. Trần Duy Hân với đề tài: “Biện pháp quản lý phương tiện dạy học của Hiệu trưởng các trường THCS trên địa bàn thành phố Huế đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục phổ thông hiện nay”. Tác giả đã nghiên cứu lý luận và đánh giá thực trạng việc quản lý phƣơng tiện dạy học của Hiệu trƣởng, xác lập các biện pháp quản lý phƣơng tiện dạy học có hiệu quả của trƣờng nhằm nâng cao chất lƣợng ở các trƣờng THCS trên địa bàn thành phố Huế, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông hiện nay.

(Trần Duy Hân, 2012) Tác giả Tô Xuân Giáp với công trình: “Phương tiện dạy học chế tạo và sử dụng”, tác giả đã đƣa ra những cơ sở phân loại và phân loại phƣơng tiện dạy học, cách thức lựa chọn, thiết kế, chế tạo, sử dụng phƣơng tiện dạy học và các điều kiện để đảm bảo sử dụng có hiệu quả phƣơng tiện dạy học.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ