đặt vấn đề mà chƣa làm rõ đƣợc thực tiễn công tác QLTC cũng nhƣ chƣa xây dựng đƣợc một hệ thống các nghiệp 9 vụ cụ thể hay đề xuất đƣợc các biện pháp khoa học và có tính khả thi phục vụ cho công tác QLTC trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay. Tiếp tục quán triệt các văn bản chỉ đạo của Đảng, Quốc hội, Chính phủ và Bộ GDĐT về đổi mới chƣơng trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông, Bộ GD&ĐT đã tổ chức bồi dƣỡng cán bộ quản lý cơ sở giáo dục phổ thông. “Quản trị tài chính trường trung học cơ sở theo hướng tăng cường tự chủ và trách nhiệm giải trình” là một trong những nội dung bồi dƣỡng cho cán bộ quản lý trƣờng trung học cơ sở để triển khai Chƣơng trình giáo dục phổ thông 2018. Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài này hy vọng sẽ góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận về Quản lý hoạt động tài chính ở các trƣờng THCS huyện Thới Bình tỉnh Cà Mau đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông.
Đánh giá ƣu điểm, khuyết điểm về thực trạng về Quản lý hoạt động tài chính ở các trƣờng THCS huyện Thới Bình tỉnh Cà Mau đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông đề từ đó đề xuất một số biện pháp Quản lý hoạt động tài chính góp phần đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác Quản lý hoạt động tài chính, xây dựng môi trƣờng giáo dục lành mạnh, tích cực, nâng cao chất lƣợng giáo dục. Các khái niệm có liên quan 1. Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường a. Quản lý: Hiện nay, hoạt động quản lý thƣờng đƣợc định nghĩa: Theo tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Quản lý là tác động có định hƣớng, có chủ đích của chủ thể quản lý (ngƣời quản lý) đến khách thể quản lý (ngƣời bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt đƣợc mục đích của tổ chức”.
Tác giả Trần Kiểm định nghĩa: “Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kiến hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức với hiệu quả cao nhất. Các khái niệm trên có những ý chung, đó là: - Hoạt động quản lý đƣợc tiến hành trong một tổ chức. - Là những tác động có định hƣớng, có mục tiêu xác định. - Là những tác động phối hợp của nhiều cá nhân để đạt mục tiêu của tổ chức.
Theo tác giả Lê Quang Sơn, Quản lý hoạt động giáo dục và dạy học trong nhà trƣờng. Tài liệu chuyên đề sau đại học(2017): “Quản lý là quá trình thực hiện các công việc xây dựng kế hoạch hành động (bao gồm cả xác định mục tiêu cụ thể, chế định kế hoạch, quy định tiêu chuẩn đánh giá và thể chế hóa), sắp xếp tổ chức( bố trí tổ chức, phối hợp nhân sự, phân công công việc, điều phối nguồn lực tài chính và kỹ thuật…), chỉ đạo điều hành, kiểm soát và đánh giá kết quả, sửa chữa sai sót( nếu có) để bảo đảm hoàn thành mục tiêu của tổ chức đã đề ra. 10 Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý(CTQL)- người quản lý, tổ chức quản lý) lên khách thể quản lý( người bị quản lý và các yếu t chịu ảnh hưởng tác động của CTQL) về các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội,… bằng một hệ th ng các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt tới mục tiêu quản lý”, (Trang 02). Quản lý giáo dục Theo tác giả Lê Quang Sơn: Quản lý hoạt động giáo dục và dạy học trong nhà trƣờng.
Tài liệu chuyên đề sau đại học (2017): “QLGD đƣợc hiểu là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể QLGD đến toàn thể các phần tử và các lực lƣợng trong hệ thống giáo dục nhằm làm cho hệ thống vận hành đúng tính chất, nguyên lý và đƣờng lối phát triển giáo dục, mà tiêu điểm hội tụ là thực hiện quá trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ, đƣa hệ thống giáo dục đến mục tiêu dự kiến. Nhƣ vậy, QLGD theo nghĩa tổng quan là điều hành, phối hợp các lực lƣợng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội. Tuy nhiên theo nghĩa rộng của giáo dục với việc thực hiện triết lý giáo dục thƣờng xuyên và triết lý giáo dục suốt đời thì ngoài tiêu điểm là giáo dục thế hệ trẻ còn phải chăm lo giáo dục cho mọi người.Cho nên: QLGD là quản lý hệ th ng giáo dục bằng sự tác động có mục đích,có kế hoạch, có ý thức và tuân thủ các quy luật khách quan của những chủ thể QLGD lên toàn bộ các mắt xích của hệ th ng giáo dục nhằm đưa hoạt động giáo dục của cả hệ th ng đạt tới mục tiêu giáo dục (xây dựng và hoàn thiện nhân cách người lao động phù h p với yêu cầu phát triển KT-XH trong từng giai đoạn cụ thể”. Quản lý nhà trường Quản lý giáo dục phải hƣớng đến quản lý nhà trƣờng.
Quản lý trƣờng học theo quan niệm của Đặng Thị Thanh Huyền cho rằng: “Quản lý trƣờng học là hệ thống những tác động có chủ đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý đến tập thể ngƣời dạy, ngƣời học, nhân viên, cha mẹ học sinh và các lực lƣợng xã hội trong và ngoài nhà trƣờng nhằm thực hiện có chất lƣợng và hiệu quả mục tiêu giáo dục” 1. Tài chính, Quản lý tài chính, tài chính trong nhà trường, nguồn lực tài chính a. Tài chính: Bàn về khái niệm tài chính theo từ điển Tiếng Việt: “Tài chính là việc quản lý thu, chi tiền bạc trong một tổ chức xã hội hay một nƣớc” Theo Nguyễn Công Giáp: “Tài chính phản ánh tổng hợp các mối quan hệ kinh tế trong phân phối các nguồn tài chính thông qua tạo lập hay sử dụng các quỹ thu tiền nhằm đáp ứng yêu cầu tích lũy hay tiêu dùng của các chủ thể trong xã hội. Bản chất của tài chính phản ánh 11 mối quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình phân phối các nguồn lực tài chính thông qua việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm mục đích đáp ứng các nhu cầu của các chủ thể trong xã hội” b.
Quản lý tài chính: Nói đến QLTC, theo Nguyễn Công Giáp & ctg (2013), QLTC là việc sử dụng các công cụ nghiệp vụ nhƣ lập dự toán, hạch toán kế toán, kiểm toán nhằm QL các nguồn vốn tự có và coi nhƣ tự có và sử dụng các nguồn kinh phí đó đúng theo chế độ tài chính quy định hiện hành của Nhà nƣớc Theo Nguyễn Sỹ Thƣ, Đặng Quốc Bảo cho rằng: QLTC là sự tác động liên tục, có tổ chức, có hƣớng đích của chủ thể quản lý lên đối tƣợng quản lý để đảm bảo hiệu quả của quá trình hình thành, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ cho các mục đích đã đề ra. Tài chính trong nhà trường: “Tài chính trong nhà trƣờng là nguồn vốn bằng tiền (thể hiện qua kinh phí, ngân sách) để nhà trƣờng thực hiện mục tiêu giáo dục, ở đây chính là mục tiêu Nhân cách và Nhân lực. Nói cách khác, tài chính-đồng tiền vận dụng vào nhà trƣờng sẽ hình thành sản phẩm có chức năng “kép”: Nhân cách và sức lao động” Nguyễn sỹ Thƣ. Hoạt động tài chính trong nhà trƣờng trong bối cảnh mới phải đƣợc coi là hoạt động đầu tƣ cho sự phát triển.
Nguồn lực tài chính: Nguồn tài chính là một yếu tố cơ bản trong khái niệm tài chính. Nguồn tài chính là tiền tệ đang vận động độc lập trong quá trình phân phối bộ phận tài sản quốc dân mà chủ yếu là tổng sản phẩm quốc dân để tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ cho các mục đích xác định. Trong cơ chế thị trƣờng hiện nay ở Việt Nam, sự nghiệp giáo dục và đào tạo đang phát triển theo hƣớng xã hội hóa và đa dạng hóa mục tiêu, chƣơng trình, loại hình trƣờng lớp và các loại hình giáo dục - đào tạo nhằm mục đích nâng cao trình độ dân trí của toàn thể dân cƣ trong xã hội. Điều này đƣợc thể hiện ở chỗ bên cạnh các trƣờng công, đã phát triển trƣờng dân lập, tƣ thục ở các cấp trong hệ thống giáo dục quốc dân.
Do đó, nguồn tài chính trong các nhà trƣờng, các cơ sở giáo dục bao gồm nguồn NSNN và ngoài NSNN, trong đó NSNN đóng vai trò chủ yếu. Các nguồn thu phản ảnh qua NSNN: thu học phí và thu lệ phí. Các nguồn thu sự nghiệp khác: từ nghiên cứu khoa học và dịch vụ tƣ vấn; quà biếu, quà tặng, đóng góp từ thiện. Nguồn ngoài NSNN là những nguồn vốn tiền tệ đƣợc Nhà nƣớc cho phép huy động trực tiếp trong xã hội để sử dụng cho việc thực hiện các nhiệm vụ giáo dục (sự đóng góp của các doanh nghiệp thuộc tất cả các thành phần kinh tế; đóng góp của nhân dân; nguồn tự tạo của hệ thống các cơ sở giáo dục đào tạo thông qua nghiên cứu khoa học và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất và đời sống; nguồn hợp tác quốc tế 12 trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo).
Xuất phát từ nội dung đổi mới trong sự nghiệp giáo dục- đào tạo, phần chi cho giáo dục từ NSNN hiện nay đƣợc giới hạn trong trách nhiệm của Nhà nƣớc cho từng lĩnh vực hoạt động của sự nghiệp giáo dục, đào tạo. Giáo dục-đào tạo là sự nghiệp của toàn dân, của toàn xã hội nên ngành giáo dục có nhiều khả năng khai thác và tạo lập vốn. Trong trƣờng THPT, nguồn tài chính của nhà trƣờng ngoài NSNN cấp, còn có cả nguồn thu sự nghiệp của nhà trƣờng bao gồm: Các loại phí, lệ phí hiện hành theo quy định: học phí, lệ phí tuyển sinh… Các khoản thu gắn với hoạt động của nhà trƣờng: các khoản thu từ các hoạt động cung ứng dịch vụ gắn với hoạt động của nhà trƣờng, khai thác cơ sở vật chất dịch vụ do trƣờng cung cấp; thu từ các hoạt động sản xuất, bán sản phẩm thực hành tại các xƣởng của nhà trƣờng, sản phẩm thí nghiệm… Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật nhƣ tiền lãi tiền gửi ngân hàng từ các khoản thu sản xuất, cung ứng dịch vụ. Ngoài những khoản thu sự nghiệp nêu trên, các trƣờng THCS đƣợc phép huy động vốn hợp pháp từ các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nƣớc để phục vụ cho hoạt động hợp pháp của nhà trƣờng theo đúng quy định của pháp luật.