CHƯƠNG 1 TONG QUAN NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIEN VE CÔNG TÁC QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI CÁC TRƯỜNG CAO ĐĂNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP CÓ THU 1. Tổng quan nghiên cứu Ở Việt nam, các công trình nghiên cứu về quản lý tài chính tại các doanh nghiệp có tương đối nhiều. Các tác giả tập trung nghiên cứu trên nhiều góc độ khác nhau như: quản lý tài sản, quản lý nguồn vốn, quản lý các khoản đầu tư,. Các công trình liên quan đến quản lý tài chính được công bố trước năm 2000, chủ yếu đưa ra các lý thuyết mang tính hàn lâm, ít có giải pháp cụ thé mang tính ứng dụng.
Năm 2003, đề tài luận án Tiến sĩ “Giải pháp nâng cao chất lượng quản lý tài chính tại hệ thống kho bạc Nhà nước ở Việt Nam” của tác giả Lê Hùng Sơn. Với đề tài này, tác giả phân tích khái niệm “quan lý tài chính”, tuy nhiên tác giả cho rằng, quản lý tài chính là chi đơn thuần là quản lý thu — chi. Song theo học thuyết quản ly tài chính của Ezra Solomon — Học thuyết mà tác giả sử dụng để phân tích những lý thuyết cơ bản liên quan trong luận án, cho thấy việc quản lý tài chính không chỉ quản lý thu — chỉ mà còn phải quản lý cho cả giai đoạn lập dự toán và quyết toán, phân tích kế hoạch triển khai (Học thuyết quản lý tài chính — Ezra Solomon), quan lý các mối quan hệ phát sinh giữa chủ thể trong nền kinh tế xã hội, trong mối quan hệ về tiền té. Vì vậy, mọi cách tiếp cận dé đưa ra giải pháp quản lý tài chính của các tác giả của một số công trình nghiên cứu trước đây đều chỉ để cập đến vấn đề quản lý những gì mình đã có (giới hạn ở phần thu và chi).
Một van đề nữa cũng khá phé biến ở các đề tài đã công bố trước đây, khi đưa ra một giải pháp hầu như các tác giả không cho người đọc biết cách phải làm như thế nào? Ví dụ: Tác giả đưa ra “giải pháp cần loại bỏ các chỉ phí mà cấp trên chưa đồng ý chỉ” (trong phần quản lý các khoản chỉ), loại bỏ như thế nào, tác giả lại không đề cập. Hay theo một số tác giả khác cho răng đề quản lý tốt tài chính cần phân chia quản lý tài chính thành: quản lý tải sản, quản lý nguôn vôn. Sau đó, phân chia: Nguôn vôn của doanh nghiệp nêu phân chia theo hình thức sử dụng: Vốn lưu động, vốn cố đinh. Ở đây, tác gia đã nhằm lẫn quản lý vốn và quản lý tài sản.
Thời gian gần đây, có nhiều công trình nghiên cứu về nội dung quản lý tài chính trong lĩnh vực giáo dục. “Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đối với các trường phổ thông Hà Nội” của tác giả Nguyễn Duy Phong đi tìm giải pháp dé quan lý tài chính của các trường phô thông. Đề tài mà nghiên cứu sinh đang nghiên cứu cũng dành cho khối các trường học, tuy nhiên, chúng ta không thê mang những cách thức quan lý đối với trường phô thông áp dụng cho trường Dai học, cao đăng được. Hơn nữa, tác giả Phong tập trung phân tích cơ chế quản lý tác động đến hiệu quả quản ly của các trường phố thông trên một địa bàn.
Năm 2008, luận án của tác giả Nguyễn Anh Thái - Học viện tài chính đã được bảo vệ với đề tài “Hoan thiện cơ chế quản lý tài chính đối với các trường Đại học ở Việt Nam”. Nếu như, công trình của tác giả Nguyễn Duy Phong, tác giả đề xuất giải pháp quản lý tài chính cho khối các trường phô thông, thì tác giả Nguyễn Anh Thái tập trung phân tích nội dung cơ chế chính sách để quản lý tài chính đối với các trường Đại học nói chung. Giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính dành cho các trường Đại học mà tác giả Nguyễn Anh Thái mang tính hàn lâm, nặng về lý thuyết. Tác giả đã dừng lại ở việc nêu vấn đề: tạo nguồn tài chính đa dạng cho đảo tạo, xây dựng cơ chế kiểm soát, chính sách học phí, học bổng, hoàn thiện mô hình tổ chức bộ máy quản lý đối với các trường đại học, mà chưa luận giải sâu sắc.TS Nguyễn Công Giáp- Viện chiến lược và chương trình giáo dục — tác giả của cuốn sách “Kinh tế học giáo dục”, cũng đã nêu ra những tất yếu của việc quản lý giáo dục ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục.
Rất khó khăn để liệt kê đầy đủ các công trình thuộc nhóm nghiên cứu về chính sách công, chính sách tài chính, bởi khối lượng khá đồ sộ và phạm vi nghiên cứu rộng. Nhưng không thé không kê đến một số công trình tiêu biéu liên quan đến đề tài luận án của các tác giả như: Đề tài cấp bộ năm 2005 của tác giả PGS.TS Vũ Duy Hào — khoa Ngân hàng Tài chính — Trường Đại học kinh tế quốc dân “Hoàn thiện cơ chế quan lý tài chính đối với các trường đại học công lập khối kinh tế ở Việt nam”. Nội dung nghiên cứu của tác giả được xác định là cơ chế quản lý tài chính và chỉ nghiên cứu trong phạm vi các trường Đại học công lập khối kinh tế. Trên cơ sở đó nhóm công sự của PGS.TS Vũ Duy Hào đã khảo sát, phân tích thực trạng cơ chế quản lý tài chính đối với các trường Đại học công lập khối kinh tế ở Việt Nam hiện nay, từ đó rút ra những kết quả đạt được cũng như hạn chế và nguyên nhân trong cơ chế quản lý tài chính hiện hành.
Đồng thời, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đối với các trường Đại học công lập khối kinh tế ở Việt Nam hiện nay. Một trong số các giải pháp tác giả đề ra, tác giả cũng đã đề cập đến “nhà nước cần xem xét việc thực hiện thí điểm cơ chế tự chủ tài chính đối với một số trường lớn, có uy tín”. Tuy nhiên, vào thời điểm năm 2005, mọi điều kiện cơ chế, chính sách Nhà nước đưa ra ở mức độ hạn chế nên tác giả mới chỉ đưa ra là “thực hiện thí điểm” cơ chế tự chủ. Đề cập về cơ chế tự chủ tài chính, thông qua Nghị định 43/2006/NĐ-CP ngày 25/04/2006 và Nghị định 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015, nhà nước ta đã thé hiện quyết tâm đổi mới cơ chế quản ly tại các đơn vị sự nghiệp công lập.
Và từ đây, có nhiều nghiên cứu đưa ra các quan điểm cá nhân về các chính sách về quản lý tài chính trong đơn vị sự nghiệp như thế nào là hợp lý như: “Mở rộng hơn nữa quyền tự chủ đối với các đơn vị sự nghiệp” (Huỳnh Thị Nhân, tạp chí tài chính số I năm 2005), “ Mở rộng quyền tự chủ tài chính cho các đơn vi sử dụng ngân sách” (Vĩnh Sang, tạp chí tài chính số 8 năm 2005). Hoặc bàn về thực trạng đổi mới cơ chế quản lý tài chính tại đơn vị sự nghiệp của nhà nước theo hướng mở rộng quyền tự chủ tài chính như Luận văn thạc sĩ của Hoàng Ngọc Tuan với đề tài: “Một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy trình quản lý tài chính tại Trung tâm dịch vụ báo chí Hà Nội”, luận án tiến sỹ của Đặng Minh Hiền về đề tài: “Một số giải pháp quản lý tài chính ở các Bệnh viện công Việt Nam”, luận văn thạc sỹ của Nguyễn Thu Thảo về dé tài: “ Hoàn thiện cơ chế tự chủ tài đối với DVSN có thu tại Viện khoa học Thủy Lợi”. Một công trình khác, nghiên cứu mang tính hệ thống, khá đầy đủ và “gần” với lĩnh vực nghiên cứu của tác giả đang nghiên cứu phải kê đên đê tài câp bộ năm 2007 của nhóm tác giả do GS.TS Mai Ngọc Cường — chủ nhiệm dé tài — trường Đại học Kinh tế quốc dân “Điều tra thực trạng và khuyến nghị giải pháp thực hiện tự chủ về tài chính ở các trường Đại học Việt Nam”. Tác giả đã tập trung đánh giá thực trạng các điều kiện tự chủ tài chính của các trường Đại học công lập hiện nay; chỉ ra những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của các trường Đại học công lập; đề xuất phương hướng và giải pháp dé tiếp tục xây dựng và hoàn thiện các điều kiện tự chủ tài chính trong các trường công lập.
Đây là một công trình đồ sộ về số lượng và nghiên cứu khá toàn diện vấn đề liên quan đến tự chủ tài chính. Tuy nhiên, theo tác giả tự chủ tài chính là một trong những phương cách dé tăng cường quản lý tai chính và chia sẻ gánh nặng với Nhà nước về trách nhiệm của các đối tượng khác trong xã hội về phát triển sự nghiệp giáo dục. Song một trong những điểm cơ bản để có thé tự chủ được thì cần quan lý tài chính như thé nào, xây đựng quy trình quản lý ra sao, tiêu chí để đánh giá một trường đại học công lập có khả năng tự chủ hay không thì trong đề tài tác giả không đề cập tới. Như vậy, một loạt các công trình được công bồ trên trong và ngoài nước đều tập trung phân tích và tìm ra cách thức để nâng cao chất lượng giáo dục.
Cụ thể là cải thiện môi trường làm việc, tìm ra phương pháp học hiện đại hay quản lý giáo viên và học sinh như thế nào, vai trò của người lãnh đạo trong một trường ảnh hưởng như thế nào tới kết quả học tập của sinh viên. Trong đó, cũng có một số công trình bàn đến vấn đề quản lý tài chính trong đơn vị sự nghiệp có thu, song đi sâu vào nghiên cứu quản lý tài chính riêng biệt đối với các trường công lập, đặc biệt trong cơ chế tự chủ tải chính, cần thiết lập được điều kiện tự chủ tài chính các trường đại học cao đăng công lập, hay xây dựng một hệ thống chỉ tiêu đánh giá quản lý tài chính các trường Đại học cao đẳng công lập còn vắng bóng. Hơn nữa, khi Việt nam đã là thành viên thứ 150 của tổ chức thương mai thé giới (WTO) thì cần phải đưa ra sự chuẩn hóa trong nguyên tắc quản lý về dao tạo dé làm cơ sở dé dàng cạnh tranh với các tổ chức từ nước ngoài vào. Song muốn nâng cao được chất lượng đào tạo tương xứng với nó phải có nguồn kinh phi dé đáp ứng, nhưng nguồn kinh phí sử dụng không hiệu quả là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc không nâng cao được chất lượng đào tạo.