Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CỦA CÁC SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỐI VỚI TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRONG BỐI CẢNH ĐỔI MỚI GIÁO DỤC VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 1. Nghiên cứu ngoài nước Đã có nhiều công trình quốc tế nghiên cứu về Kinh tế học giáo dục, trong đó tập trung nghiên cứu tài chính giáo dục, phân cấp quản lý tài chính giáo dục. Các nghiên cứu cơ bản về Kinh tế - tài chính giáo dục nổi bật là George Psacharopoulos với các công trình mang tính kinh điển về Kinh tế học giáo dục, đặc biệt là tài chính giáo dục.
Ông đã phân tích sâu sắc về đóng góp của giáo dục với vốn nhân lực, tăng trưởng, phát triển kinh tế, hiệu quả của giáo dục thông qua phân tích chi phí - lợi ích. Phân tích tài chính giáo dục như chi tiêu cho giáo dục, học phí, giá thành giáo dục, tài chính công cho giáo dục, cách thức cung cấp tài chính cho giáo dục, công bằng trong giáo dục… qua nhiều công trình nghiên cứu, tác phẩm như: “Tài chính giáo dục ở các nước đang phát triển: Thăm dò lựa chọn chính sách” (J. Economics of Education: Research and Studies (Psacharopoulos,1987)[70]. Cost-benefit analysis in educational planning (Woodhall&Maureen, 2004) [86] Tổ chức phát triển Liên hợp quốc tại Việt Nam (UNDP) đã khởi xướng nghiên cứu chỉ số phát triển con người HDI và hàng năm đều xuất bản báo cáo phát triển con người của các quốc gia (Human Development Report).
Trong đó bao gồm vai trò của giáo dục đối với phát triển con người, cách đo chỉ số giáo dục trong HDI (UNDP, 2010) [79]. Nghiên cứu mô hình phân bổ ngân sách giáo dục cho thấy có 2 mô hình truyền thống và mô hình dựa trên kết quả thực hiện (Jamil Salmi and Arthur M. Nghiên cứu phân cấp quản lý tài chính ở Việt nam Một số nghiên cứu về phân cấp quản lý tài chính ở Việt nam như: Ngân hàng thế giới (WB, 1996), (WB, 2001), (WB- Vietnam Government, 2005); Martinez - Vazquez và Mc Lure (1998, 2004); Rao. G và cộng sự (1998) (Rao, Govinda.M; Richard Bird and Jennnie I Livack, 1998.Minh và cộng sự (Nguyễn Thị Minh- Nguyễn Quang Dong, 2008), Vũ T.T Anh và cộng sự (Vũ Thành Tự Anh, Lê V.
Thắng, 2007), (Nguyễn Phi Lân, Phạm Hồng 10 Chương , 2008) và một số bài viết khác được trình bày trong các hội thảo chuyên ngành. Những nghiên cứu này chỉ ra các bất cập và đề xuất hướng cải cách phân cấp quản lý ngân sách ở Việt Nam là: thiết kế lại hệ thống ngân sách nhà nước; trao cho địa phương quyền tự chủ cao hơn trong quyết định và quản lý nguồn thu; mở rộng quyền tự chủ của địa phương trong quyết định chi tiêu; đổi mới quy trình lập, phân bổ, chấp hành và quyết toán ngân sách; tăng cường tính minh bạch và trách nhiệm giải trình về tài chính ở cấp địa phương, thực hiện nghiêm kỷ luật tài khóa và cho phép sự linh hoạt nhất định trong điều hành ngân sách địa phương để đối phó với những biến động. Nghiên cứu Phân cấp quản lý tài chính giáo dục Nghiên cứu “Phân cấp quản lý tài chính giáo dục: Bằng chứng từ của Hoa Kỳ” của Nobuo Akai, Masayo Sakata, Ryuichi Tanaka: Nghiên cứu này thử nghiệm tác động thực tiễn của phân cấp quản lý ở giáo dục cơ bản. Các cấp quản lý trung ương và địa phương tăng quyền và trách nhiệm cho nhà trường, phân cấp chức năng quản lý trường học và đổi mới cấu trúc nhà trường sẽ tạo ra đội ngũ giáo viên giảng dạy có hiệu quả và học sinh đạt thành tích học tập cao hơn (Nobuo Akai, Masayo Sakata, Ryuichi Tanaka, 2007)[67].
Bên cạnh đó có các nghiên cứu về “Phân cấp trong ra quyết định của trường học: lý thuyết và các bằng chứng trong quản lý dựa vào nhà trường” của Barrera, Felipe, Tazeen Fasih, and Harry Patrinos (Barrera, Felipe, Tazeen Fasih, and Harry Patrinos, with Lucrecia Santibáñez, 2009) [55]; Bruns, Barbara, Deon Filmer and Harry Anthony Patrinos, 2011 với nghiên cứu: “Làm cho các nhà trường hoạt động: các bằng chứng mới về đổi mới minh bạch” (Bruns, Barbara, Deon Filmer and Harry Anthony Patrinos, 2011) [56]. Phòng Phát triển con người của Ngân hàng Thế giới đã đưa ra một sáng kiến gọi là “Tiếp cận hệ thống trong quản lý tài chính nhằm đạt kết quả giáo dục tốt hơn” (SABER_- Finance) để đạt được một sự hiểu biết sâu sắc hơn về các thỏa thuận tài chính và quản trị được sử dụng để tạo ra và duy trì các điều kiện cần thiết cho sinh viên học tập trong giáo dục cơ bản. Theo đó, mô hình này đưa ra ba mục tiêu chính sách mà tất cả các hệ thống tài chính giáo dục cần phải cố gắng để đạt được: (1) đảm bảo điều kiện cơ bản cho giáo dục; (2) thúc đẩy công bằng giáo dục và (3) thực hiện hiệu quả giáo dục. Nghiên cứu cũng xác định năm lĩnh vực cốt lõi quan trọng liên quan đến tài chính giáo dục mà sẽ là trung tâm của nỗ lực thu thập dữ liệu: (1) điều kiện học và các nguồn lực; (2) chi tiêu giáo dục; (3) các nguồn thu; (4) cơ chế phân bổ; và (5) kiểm soát tài chính và năng lực (The World Bank, 2013)[77].
11 Nghiên cứu của Ngân hàng thế giới về Phân cấp quản lý trường học: tăng quyền tự chủ và trách nhiệm của nhà trường ở các nước Đông Á: Nghiên cứu này cho thấy Tăng cường phân cấp quản lý giáo dục, tăng quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm cho nhà trường, tăng vai trò ra quyết định của cấp trường học gắn liền với các hệ thống thông tin thêm trách nhiệm giải trình. Sự liên kết giữa mức độ tự chủ và công khai, minh bạch thông tin rất quan trọng cho phân cấp có hiệu quả (J. Sử dụng phân tích chi phí trong lập kế hoạch giáo dục Các nghiên cứu về phân tích chi phí - lợi ích trong giáo dục phải kể đến George Psacharopoulos với các công trình “Thu hồi vốn trong giáo dục: một so sách quốc tế” (George Psacharopoulos, 1973)[69].; “Nghiên cứu và tìm hiểu về Kinh tế học giáo dục” ”(G. “Tài chính giáo dục ở các quốc gia đang phát triển: Khám phá về các lựa chọn chính sách” (George Psacharopoulos with J.
Viện Kế hoạch Giáo dục Quốc tế (IIEP) đã tiến hành triển khai một dự án nghiên cứu vào năm 1968 để kiểm chứng các cách sử dụng phân tích chi phí ở cả các quốc gia phát triển và đang phát triển, những khảo sát điểm bao gồm các ví dụ về phân tích chi phí - lợi ích, phân tích chi phí - hiệu quả, nghiên cứu các yếu tố xác định các chi phí giáo dục, nghiên cứu về phần tích lũy do tăng qui mô trong việc ứng dụng công nghệ giáo dục mới và nghiên cứu phân tích chi phí xây dựng trường sở. Dự án của Viện Kế hoạch Giáo dục Quốc tế - IIEP kết luận phân tích chi phí phục vụ cho nhiều mục đích khác nhau trong lập kế hoạch giáo dục, bao gồm: kiểm chứng tính khả thi về kinh tế của các kế hoạch mở rộng, các đề xuất hay mục tiêu; dự báo mức chi phí giáo dục trong tương lai; ước tính chi phí của các chính sách khác nhau và cải cách hay đổi mới giáo dục; so sánh các cách thực hiện cùng một mục tiêu để lựa chọn ra được cách thực hiện có hiệu quả hoặc tiết kiệm nhất; so sánh khả năng sinh lời của các dự án đầu tư; và nâng cao tính hiệu quả của việc sử dụng các nguồn lực. Những bài học chính được rút ra từ dự án này được Hallak tổng hợp, cùng với phần miêu tả tóm tắt các khảo sát điểm và một số gợi ý về việc “thực hiện phân tích chi phí” (Hallak, 1969) [63]. Bên cạnh đó có nhiều công trình nghiên cứu của UNESCO về khuôn khổ lập kế hoạch phát triển giáo dục trung hạn ngành giáo dục, phân tích các nguồn vốn và chi tiêu cho giáo dục Việt Nam (Dang Thi Thanh Huyen, 2009) [59].
Nghiên cứu trong nước Luận án đã tập hợp các công trình nghiên cứu đã có theo 7 chủ đề dưới đây: 12 1) Nghiên cứu về tài chính của giáo dục trong bối cảnh nền kinh tế thị trường và hội nhập. Trong chủ đề này, có thể kể tới: Chỉ số giáo dục trong HDI (Đặng Quốc Bảo, Đặng Thị Thanh Huyền, 2005)[9]; Những nghiên cứu giới thiệu tổng quan chung về xu hướng tài chính của giáo dục thế giới như cuốn sách: Giáo dục thế giới đi vào thế kỷ XXI; Mục 4. Tài chính của giáo dục (Phạm Minh Hạc, 2002) [19]; Nghiên cứu các giải pháp Quản lý giáo dục trong môi trường hội nhập WTO của Nguyễn Công Giáp (Nguyễn Công Giáp, 2007)[15]; những vấn đề kinh tế giáo dục trong bối cảnh hiện nay (Nguyễn Văn Hộ, 2001) 2) Các nghiên cứu về thực trạng tài chính và quản lý tài chính giáo dục của Việt Nam nói chung và THPT nói riêng Những nghiên cứu này đề cập đến quản lý tài chính và phân cấp, phân quyền quản lý tài chính cho trường học các cấp: quản lí tài chính và tự chủ tài chính giáo dục; tìm hiểu và phân tích cơ sở lí luận, quan điểm, chính sách của Nhà nước Việt Nam về tài chính cho GDĐH và tăng cường tự chủ tài chính trong tự chủ đại học (Nguyễn Thị Yến Nam, 2013); Phân tích tình hình chung về chi tiêu cho giáo dục, thực hiện cơ chế, chính sách tăng cường phân cấp quản lý tài chính GD & ĐT toàn ngành, Phân tích thực tiễn về thực hiện tự chủ tài chính cho trường THPT và đề xuất một số giải pháp tăng cường tự chủ tài chính cho trường THPT, trong đó nhiều yếu tố liên quan đến vai trò của Sở GD&ĐT. Có thể kể đến các công trình như: Việt Nam Nghiên cứu Tài chính cho giáo dục (Ngân hàng Thế giới- Chính phủ Việt Nam, 1996)[42]; Việt Nam Quản lý tốt hơn nguồn lực nhà nước, Đánh giá chi tiêu công năm 2000 (Ngân hàng Thế giới - Chính phủ Việt Nam, 2000)[41]; Việt Nam Quản lý chi tiêu công để tăng trưởng và giảm nghèo (Ngân hàng Thế giới - Chính phủ Việt Nam, 2005)[43].
Tự chủ tài chính đối với các trường Trung học phổ thông công lập các tỉnh phía Bắc: Thực trạng và giải pháp (Đặng Thị Thanh Huyền, 2006); Đổi mới và hoàn thiện các giải pháp tài chính nhằm thúc đẩy xã hội hóa giáo dục - đào tạo; quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội trong quản lý tài chính của các trường học (Chử Thị Hải, 2013)[22]; các vấn đề về tăng trưởng kinh tế và các vấn đề chủ yếu của chính sách giáo dục (Phạm Quang Sáng, 1998)[45]. 3) Nghiên cứu về các nguồn tài chính đầu tư cho giáo dục THPT.