phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị và tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung luận văn được trình bày trong 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý sinh viên trong phương thức đào tạo theo tín chỉ. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý sinh viên ở Trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội. Chƣơng 3: Một số biện pháp quản lý sinh viên ở Trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội. 4 z Chƣơng 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ QUẢN LÝ SINH VIÊN 1.
Những khái niệm cơ bản của đề tài 1. Sinh viên Thuật ngữ “sinh viên” có nguồn gốc từ tiếng La tinh “discipulus” có nghĩa là người làm việc, học tập nhiệt tình, người tìm kiếm, khai thác tri thức. Nó được dùng tương đương với từ “student” trong tiếng Anh, từ “etudiant(e)” trong tiếng Pháp thường để chỉ những người đang theo học ở bậc đại học, được phân biệt với học sinh đang học ở phổ thông. Theo quan niệm của X.Rubinstêin - nhà Tâm lý học, nhà Triết học Nga: “sinh viên” là đại biểu của một nhóm xã hội đặc biệt được đào tạo trong các trường đại học, cao đẳng để chuẩn bị cho hoạt động lao động và sản xuất vật chất cho xã hội.
Nhóm sinh viên rất cơ động được tổ chức theo một mục đích xã hội nhất định nhằm chuẩn bị thực hiện vai trò xã hội với trình độ nghề nghiệp cao trong xã hội, sinh viên là nguồn lực bổ sung cho đội ngũ tri thức được đào tạo thành người lao động có tay nghề cao tham gia hoạt động tích cực. Điều 1 Quy chế Công tác HSSV trong các trường đào tạo, ban hành kèm theo quyết định số 1584/BGD-ĐT ngày 27/7/1993 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT đã nêu: Những người đang học trong hệ đại học và cao đẳng được gọi là sinh viên. Tuy nhiên, trong giới hạn của đề tài này chỉ nghiên cứu với đối tượng là sinh viên hệ chính quy thì có thể thu hẹp nội hàm của khái niệm này như sau: - Đó là những người đã tốt nghiệp trung học phổ thông - Họ đã vượt qua kỳ thi tuyển sinh đại học và đỗ vào trường - Họ thuộc nhóm thanh niên nam, nữ từ 17 đến 25 tuổi - Họ chưa thuộc nhóm người có nghề nghiệp ổn định, do đó còn lệ thuộc gia đình về kinh tế - Họ là nhóm xã hội đặc biệt gồm những thanh niên xuất thân từ các tầng lớp xã hội khác nhau đang trong quá trình học tập, chuẩn bị nghề nghiệp chuyên môn để bước vào một nhóm xã hội mới là tầng lớp tri thức trẻ 5 z 1. Quản lý, các chức năng quản lý nói chung 1.
Quản lý Thuật ngữ “Quản lý” (từ Hán Việt) gồm hai quá trình tích nhau. Quá trình “quản” gồm coi sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng thái “ổn định”. Quá trình “lý” gồm sửa sang, sắp xếp, đổi mới đưa hệ thống (tổ chức) vào thế “phát triển”. Nếu chỉ “quản” thì tổ chức dễ trì trệ, nếu chỉ “lý” thì tổ chức phát triển không bền vững.
Do đó trong “quản” phải có “lý” và ngược lại để làm cho hệ thống ở trạng thái cân bằng động, vận động phù hợp, thích ứng và có hiệu quả trong môi trường tương tác giữa các nhân tố bên trong và các nhân tố bên ngoài tổ chức [20]. Như chúng ta đều biết, khoa học quản lý đã xuất hiện cùng với sự phát triển của xã hội loài người. Nó là phạm trù tồn tại khách quan, được ra đời một cách tất yếu do nhu cầu của mọi chế độ xã hội, mọi tổ chức, mọi quốc gia, mọi thời đại. Lao động quản lý là một lĩnh vực lao động trí tuệ và thực tiễn phức tạp nhất của con người nhằm điều khiển lao động, thúc đẩy xã hội phát triển; khoa học quản lý gắn liền với tiến trình phát triển của xã hội loài người, mang tính lịch sử, giai cấp và dân tộc.
Quản lý là một khoa học sử dụng tri thức của nhiều môn khoa học xã hội, đồng thời quản lý còn là một nghệ thuật đòi hỏi sự khôn khéo và tinh tế cao độ để đạt được mục đích. Vì vậy, người ta có thể hiểu khái niệm quản lý theo nhiều cách khác nhau phụ thuộc vào cái nhìn chủ quan và tính mục đích hoạt động. Chúng ta có thể điểm qua một số khái niệm sau: Theo K.Marx, quản lý là chức năng được sinh ra từ tính chất xã hội hóa lao động. Nó có tầm quan trọng đặc biệt vì mọi sự phát triển của xã hội đều thông qua hoạt động của con người và thông qua quản lý.
Tác giả viết: “Tất cả mọi lao động (xã hội) trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự điều khiển lấy mình, còn dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng ” [32, tr.W Taylo (1856-1915): “Quản lý là biết được chính xác điều mình muốn người khác làm và sau đó biết được họ làm việc đó có tốt hay không, có rẻ nhất không” [21, tr. Theo Henri Fayol (1841-1925), xuất phát từ các loại hình quản lý cho rằng : “ Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra” [21, tr. Theo các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có mục đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [21, tr1].
Từ các cách tiếp cận trên, chúng ta thấy khái niệm quản lý bao hàm một số ý nghĩa chung, đó là: - Quản lý là quá trình hoạt động có mục đích để điều khiển lao động. - Có sự tương tác giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý. - Có liên quan tới môi trường xác định. Như vậy, có thể khái quát lại như sau: Quản lý là một hoạt động nhằm thực hiện những tác động hướng đích của chủ thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả những tiềm năng, các cơ hội của tổ chức nhằm đạt đến mục tiêu của tổ chức đặt ra trong một môi trường luôn luôn thay đổi.
Các chức năng quản lý Chức năng của quản lý là tập hợp các nhiệm vụ mà chủ thể quản lý phải thực hiện để đạt mục đích, mục tiêu quản lý đề ra. Có nhiều cách phân chia về chức năng quản lý nhưng cơ bản thống nhất ở bốn chức năng cơ bản sau đây: - Chức năng lập kế hoạch + Kế hoạch là văn bản trong đó xác định mục tiêu, mục đích của một tổ chức và những con đường, các biện pháp, cách thức để đạt được mục tiêu, mục đích đó. + Lập kế hoạch là quá trình ấn định những nhiệm vụ, những mục tiêu và phương pháp tốt nhất để thực hiện những mục tiêu, nhiệm vụ đó. 7 z + Lập kế hoạch là phương pháp tiếp cận hợp lý để đạt những mục tiêu định trước, là chức năng cơ bản nhất trong các chức năng quản lý vì nó gắn liền với việc lựa chọn chương trình hành động trong tương lai.
Chức năng kế hoạch hoá có 3 nội dung cơ bản: + Xác định, hình thành mục tiêu (phương hướng) đối với tổ chức. + Xác định và đảm bảo (có tính chắc chắn, có tính cam kết) về các nguồn lực của tổ chức để đạt được mục tiêu này. + Quyết định xem những hoạt động nào là cần thiết để đạt được các mục tiêu, xác định các hoạt động ưu tiên. - Chức năng tổ chức Tổ chức thực hiện kế hoạch là quá trình sắp xếp và phân phối các nguồn lực để thực hiện các mục tiêu đã đề ra, là sự sắp đặt một cách khoa học cho con người, công việc một cách hợp lý, là sự phối hợp các tác động bộ phận tạo nên một tác động tích hợp mà hiệu quả của nó lớn hơn nhiều so với tổng số các hiệu quả của các tác động thành phần.
Công tác tổ chức bao gồm: + Xác định cấu trúc bộ máy + Tiếp nhận và phân phối các nguồn lực theo cấu trúc bộ máy + Xác lập cơ chế phối hợp giữa các bộ phận, các thành viên trong tổ chức - Chức năng chỉ đạo Chỉ đạo là quá trình điều khiển, điều hành, tác động, huy động và giúp đỡ con người, tổ chức trong hệ thống thực hiện nhiệm vụ. Chỉ đạo là quá trình tác động, liên kết các thành viên trong tổ chức, tập hợp, động viên họ hoàn thành những công việc nhất định để đạt được mục tiêu của tổ chức. Nội dung của chức năng chỉ đạo bao gồm: + Chỉ huy, ra lệnh + Động viên, khen thưởng + Theo dõi, giám sát + Uốn nắn, sửa chữa, chỉnh lý 8 z - Chức năng kiểm tra Để hoàn thành chức năng lãnh đạo, người lãnh đạo hệ thống cần thiết và phải thực hiện chức năng kiểm tra của quản lý. Lãnh đạo mà không kiểm tra thì coi như không lãnh đạo.
Kiểm tra theo lý thuyết hệ thống chính là thiết lập mối quan hệ ngược trong QL. Có 3 yếu tố cơ bản của công tác kiểm tra: + Xây dựng chuẩn thực hiện + Đánh giá việc thực hiện trên chính sách so với chuẩn + Nếu có sự chênh lệch thì cần điều chỉnh hoạt động Bốn chức năng của quản lý có mối quan hệ mật thiết với nhau tạo thành một chu trình quản lý. Chu trình quản lý bao gồm bốn giai đoạn với sự tham gia của hai yếu tố quan trọng: thông tin và quyết định. Trong đó, thông tin có vai trò là huyết mạch của hoạt động quản lý đồng thời cũng là tiền đề của một quá trình quản lý tiếp theo.
Lập kế hoạch Thông tin Kiểm tra Tổ chức quản lý Chỉ đạo Sơ đồ 1.1: Các chức năng trong một chu trình quản lý 1. Quản lý sinh viên - Quản lý sinh viên là việc tổ chức, điều hành, phối hợp các lực lượng trong nhà trường nhằm thực hiện công tác giáo dục, quản lý, trợ giúp sinh viên góp phần thực hiện mục tiêu đào tạo và yêu cầu phát triển của xã hội trong mỗi nhà trường. 9 z - Quản lý sinh viên với đặc trưng cơ bản là quản lý con người nên đòi hỏi tính khoa học và tính nghệ thuật cao trong quá trình quản lý.