Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý sinh hoạt chuyên môn của tổ tự nhiên theo nghiên cứu bài học ở trường THCS Chương 2: Thực trạng quản lý sinh hoạt chuyên môn của tổ tự nhiên theo nghiên cứu bài học ở các trường THCS thành phố Uông Bí tỉnh Quảng Ninh. Chương 3: Đề xuất biện pháp quản lý sinh hoạt chuyên môn tổ tự nhiên theo nghiên cứu bài học ở các trường THCS thành phố Uông Bí tỉnh Quảng Ninh. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 4 http://www.vn c Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ SINH HOẠT CHUYÊN MÔN CỦA TỔ TỰ NHIÊN THEO NGHIÊN CỨU BÀI HỌC Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Sơ lƣợc lịch sử nghiên cứu vấn đề 1.
Trên thế giới Giáo dục nói chung và dạy học nói riêng là một hoạt động đặc biệt của xã hội. Từ xưa tới nay vai trò của giáo dục đối với xã hội được thừa nhận là không thể thiếu. Sự phát triển của xã hội luôn kéo theo, song hành với phát triển giáo dục. Thực tế cho thấy trên thế giới, không một quốc gia nào có thể phát triển được nếu như nền giáo dục nước đó không phát triển.
Trong nhà trường, tổ chuyên môn là đơn vị cơ sở gắn bó trực tiếp với người GV giảng dạy. Ở đây diễn ra mọi hoạt động có liên quan đến hoạt động nghề nghiệp của người GV, là một bộ phận không thể thiếu trong mỗi nhà trường và là nơi bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ của GV trong nhà trường. Vì thế, công tác QL sinh hoạt tổ chuyên môn đang đặc biệt được quan tâm. Sinh hoạt tổ chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học cho đến nay vẫn phổ biến ở nhiều trường tại Nhật Bản và được xem như hình thức chủ yếu để phát triển năng lực chuyên môn của GV tại trường.
Thuật ngữ “Nghiên cứu bài học”có nguồn gốc trong lịch sử giáo dục Nhật Bản, từ thời Meiji (1868 - 1912), như một biện pháp để nâng cao năng lực nghề nghiệp của GV thông qua nghiên cứu cải tiến các hoạt động dạy học ở từng bài học cụ thể. Hình thức này cũng đã được nhiều nước trên thế giới áp dụng như Mỹ, Đức, Úc, Trung Quốc, Hồng Kong, Hàn Quốc, Singapore, Thái Lan, Indonesia… Và đây cũng là một chủ đề giáo dục được quan tâm trên thế giới. Ở Việt Nam Ở Việt Nam, với một bề dày hàng ngàn năm lịch sử gắn liền với quá trình đấu tranh và xây dựng đất nước, nhiều quan điểm, triết lý giáo dục đã được nêu lên, đúc kết từ kinh nghiệm thực tiễn.… Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 5 http://www.vn c Trong hơn một thập kỷ qua, nghiên cứu bài học cũng đã được vận dụng ở Việt Nam nhưng còn ít và rải rác. Bộ GD&ĐT và JICA (Tổ chức phát triển hợp tác quốc tế của Nhật Bản) cũng đã triển khai dự án về “Tăng cường bồi dưỡng GV theo cụm trường và QLNT ở Việt Nam 2006- 2007".
Đây là một trong những nghiên cứu vận dụng nghiên cứu bài học. Nhiều trường cũng đã áp dụng hình thức nghiên cứu bài học vào SHCM. Năm 2007- 2009, Đại học Cần Thơ và Đại học Bang Michi-gan, Hoa Kỳ đã tiến hành một nghiên cứu nhằm vận dụng mô hình nghiên cứu bài học vào thực tiễn lớp cấp Tiểu học và THCS ở vùng khó khăn và đã thu được kết quả đáng quan tâm. Nhiều tác giả đã dành sự quan tâm tới việc nghiên cứu các biện pháp QL hoạt động dạy học của hiệu trưởng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động dạy học và chất lượng SHCM của GV trong các nhà trường như: - Phạm Đức Bách (2010), Một số hình thức SHCM ở trường THCS nhằm góp phần đổi mới phương pháp dạy học, Tạp chí Giáo dục Số 235 tr.
- Vũ Thị Sơn (2011), Đổi mới SHCM theo hướng xây dựng văn hóa học tập ở nhà trường thông qua " nghiên cứu bài học ", Tạp chí Giáo dục Số 269 tr. Các bài viết, đề tài này đã đề cập đến lý thuyết của nghiên cứu bài học (khái niệm nghiên cứu bài học, các bước triển khai nghiên cứu bài học, những lợi ích của nghiên cứu bài học và một số khó khăn khi tiến hành nghiên cứu bài học). Tuy nhiên, chưa có bài viết nào đánh giá về thực trạng QL SHCM theo nghiên cứu bài học trong các nhà trường hiện nay. Về đề tài nghiên cứu về công tác QL SHCM trong nhà trường phổ thông, có thể kể đến một số đề tài như: - Vi Quang Trung (2010) " QL đội ngũ tổ trưởng chuyên môn ở các trường THPT tỉnh Lạng Sơn", Luận văn Thạc sĩ khoa học giáo dục.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 6 http://www.vn c - Nguyễn Minh Đăng (2012), Biện pháp QL tổ chuyên môn của Hiệu trưởng trường THPT huyện Tam Dương tỉnh Vĩnh Phúc, Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục,. Mỗi đề tài lại đi sâu nghiên cứu một phạm vi, nhưng hầu hết các đề tài nghiên cứu nói trên chỉ đề cập đến vấn đề nâng cao hiệu quả QL tổ chuyên môn của Hiệu trưởng và tổ trưởng chuyên môn theo hình thức truyền thống mà chưa có đề tài nào nghiên cứu SHCM của tổ tự nhiên theo hướng nghiên cứu bài học. Trong đề tài này, tác giả hệ thống hóa lý luận và nghiên cứu thực trạng để có thể đề xuất các biện pháp QL SHCM của tổ tự nhiên theo hướng nghiên cứu bài học ở các trường THCS thành phố Uông Bí tỉnh Quảng Ninh. Một số khái niệm cơ bản của đề tài nghiên cứu 1.
Quản lý Khái niệm về thuật ngữ QL được phát biểu theo nhiều cách tiếp cận khác nhau, đối với mỗi tác giả. Tuy vậy, mỗi khái niệm hầu hết đều nhắc đến hai thành tố quan trọng, đó là chủ thể QL và đối tượng QL. Có thể nêu ra một số khái niệm về QL: Theo C.Marx: “QL là lao động điều khiển lao động" [dẫn theo 12]. QL là hoạch định, tổ chức, bố trí nhân sự, lãnh đạo, kiểm soát công việc và những nỗ lực của con người nhằm đạt được những mục tiêu đặt ra.
QL là sự tác động của con người (cơ quan QL) đối với con người và tập thể người nhằm làm cho hệ thống QL hoạt động bình thường có hiệu quả, giải quyết được các nhiệm vụ đề ra, là sự trông coi giữ gìn theo những yêu cầu nhất định, tổ chức và điều hành các hoạt động theo những yêu cầu nhiệm vụ nhất định. QL là sự tác động, chỉ huy điều khiển hướng dẫn hành vi, quá trình xã hội để chúng phát triển hợp quy luật, đạt được mục đích đã đề ra và đúng ý chí của người QL. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 7 http://www.vn c Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang, "QL là sự tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể QL đến tập thể những người lao động nhằm thực hiện những mục tiêu dự kiến" [29]. Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: ''Quản lý = Quản + Lý''.
Trong đó: Quản là chăm sóc, giữ gìn sự ổn định; Lý là sửa sang, sắp xếp, đổi mới phát triển. Như vậy : Quản lý = ổn định + phát triển. Hệ ổn định mà không phát triển thì tất yếu dẫn đến suy thoái. Hệ phát triển mà không ổn định thì tất yếu sẽ rối loạn.
Điều đó có nghĩa là hoạt động nhiều làm cho hệ thống hoạt động theo mục tiêu đặt ra và tiến tới trạng thái có tính chất lượng mới [3]. Theo tác giả Trần Khánh Đức: "Quản lý là hoạt động có ý thức của con người nhằm định hướng, tổ chức, sử dụng các nguồn lực và phối hợp hành động của một nhóm người hay một cộng đồng người để đạt được các mục tiêu đề ra một cách hiệu quả nhất" [12, tr. ''QL là một tập hợp các hoạt động lập kế hoạch (KH), tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra các quá trình tự nhiên, xã hội, khoa học, kỹ thuật và công nghệ để chúng phát triển hợp quy luật các nguồn lực vật chất và tinh thần, hệ thống tổ chức và các thành viên thuộc hệ thống, các hoạt động để đạt được các mục đích đã định'' [16]. Đó là những quan niệm khác nhau về QL và những cái nhìn chủ quan dưới những góc độ khác nhau và tính mục đích hoạt động khác nhau.
Hiện nay, thuật ngữ QL đã được nhắc đến nhiều nhưng chưa thật sự thống nhất do tính chất đặc biệt của hoạt động QL. Theo phương diện đánh giá QL là một hoạt động thì có thể định nghĩa: QL là một quá trình tác động có chủ định, có định hướng của chủ thể QL tới đối tượng QL nhằm tạo cho sự vận hành trong tổ chức nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra. Quản lý giáo dục Giáo dục là một hoạt động xã hội nhằm truyền đạt những kinh nghiệm, những sáng tạo trong đấu tranh thiên nhiên và đấu tranh xã hội của thế hệ trước truyền cho thế hệ sau. Nhờ vậy, xã hội loài người được duy trì và phát triển.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 8 http://www.vn c Như vậy giáo dục là một bộ phận của xã hội, nên QLGD là một loại hình QL xã hội. QLGD theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển của xã hội hiện nay. Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang, QLGD là khái niệm đa cấp (bao gồm cả QL hệ giáo dục quốc gia, QL các phân hệ của nó, đặc biệt là QL trường học), cụ thể: “QLGD là hệ thống những tác động có mục đích, có KH, hợp qui luật của chủ thể QL nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện các tính chất của Nhà trường XHCN Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa giáo dục đến mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” [29]. Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “QLGD là tổ chức hoạt động dạy học.
Có tổ chức được các hoạt động dạy học, thực hiện được các tính chất của nhà trường phổ thông Việt Nam xã hội chủ nghĩa, mới QL được giáo dục, tức là cụ thể hóa đường lối giáo dục của Đảng và biến đường lối đó thành hiện thực, đáp ứng nhu cầu của nhân dân, đất nước” [14]. Khudominsky: “QL khoa học hệ thống giáo dục có thể xác định như là tác động có hệ thống, có kế hoạch , có ý nghĩa và định hướng của chủ thể QL ở các cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của hệ thống đó (từ Bộ đến các trường, các cơ sở giáo dục khác.