Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tình hình quản lý, bảo vệ rừng trên thế giới 1. Tình hình quản lý, bảo vệ và diễn biến rừng Rừng là nơi sinh sống của 300 triệu người trên toàn thế giới và 80% đa dạng sinh học trên cạn của thế giới và cung cấp sinh kế trực tiếp cho 1,6 tỷ người , trong đó có 10 triệu người làm công tác quản lý và bảo tồn rừng. Theo FAO , tổng diện tích rừng trên thế giới chỉ hơn 4 tỷ ha, với rừng chiếm 31% tổng diện tích đất và các khu bảo tồn được thành lập hợp pháp chiếm khoảng 13% diện tích rừng trên thế giới.
Năm quốc gia có nhiều rừng nhất là Liên bang Nga, Brazil, Canada, Hoa Kỳ và Trung Quốc, chiếm hơn một nửa tổng diện tích rừng. Rừng đang biến mất với tốc độ đáng báo động. 129 triệu hecta đã mất từ năm 1990 đến 2015. Năm 2017 chứng kiến sự tàn phá diện tích rừng lớn nhất trên toàn cầu trong hơn 15 năm, một phần do một sự kiện El Nino mạnh mẽ với năm trước đó dẫn đến hạn hán chưa từng có và cháy rừng, cũng như việc mở rộng tiếp tục sản xuất nông nghiệp cho những thứ như dầu cọ tại Đông Nam Á.
Đã có 80% diện tích rừng trên trái đất bị phá hủy, hiện diện tích rừng chỉ còn lại 20% và được bảo vệ một cách hợp lý Cây cối đóng một vai trò quan trọng trong chu kỳ tuần hoàn của nước. Hơn một nữa gỗ của Thế Giới và 72% lượng giấy được sử dụng bởi 22% dân số (Hoa Ky, Nhật Bản, Châu Âu) Các nước công nghiệp hóa tiêu thụ sản phẩm gỗ bằng 12 lần so với các nước phi công nghiệp (Runyan, C. Mỗi ngày tổng diện tích rừng bị mất bình quân là 32.374 hecta và mỗi năm bình quân là 11. Biểu đồ các quốc gia có tổng tỷ lệ mất rừng cao nhất từ năm 2000 đến 2005 (Nguồn ảnh: Mongabay.
Nguồn dữ liệu: FAO) Rừng trên toàn thế giới đang gần đến đỉnh điểm do hạn hán gây ra và trầm trọng hơn do biến đổi khí hậu và nạn phá rừng .Rừng nhiệt đới từng bao phủ 14% bề mặt Trái đất, nay chúng chỉ còn 6% và các chuyên gia ước tính rằng những khu rừng nhiệt đới cuối cùng còn lại có thể bị tiêu thụ trong vòng chưa đầy 40 năm và chắc chắn vào cuối thế kỷ này với tốc độ phá rừng hiện nay. Gần một nửa số loài thực vật, động vật, côn trùng và vi sinh vật trên thế giới sẽ bị đe dọa hoặc tiêu diệt nghiêm trọng trong 1/4 thế kỷ tới do nạn phá rừng. Cứ một giây rưỡi diện tích rừng nhiệt đới bị mất đi và các chuyên gia ước tính rằng chúng ta đang mất 137 loài thực vật, động vật và côn trùng mỗi ngày do nạn phá rừng, tương đương với 50. Mặc dù FAO 5 ước tính so với những năm 1990, tỷ lệ mất rừng thấp hơn một chút trong thập kỷ qua với tốc độ 13 triệu ha rừng bị phá hàng năm, diện tích tương đương với Hy Lạp , và rừng trồng hiện chiếm gần 7% tổng diện tích rừng.
diện tích, mỗi năm trên thế giới có ít diện tích rừng hơn và những khu rừng còn lại có chất lượng thấp hơn. Biểu đồ thực trạng nạn phá rừng nhiệt đới năm 1750-2000 (Nguồn: Steffen et al 2004). Theo một nghiên cứu được công bố trên tạp chí Scientific Reports, nếu nạn phá rừng tiếp tục diễn ra với tốc độ như hiện nay trong 20 - 40 năm tới, nó có thể gây ra sự tuyệt chủng hoàn toàn hoặc gần như hoàn toàn của loài người. Để tránh điều đó, nhân loại nên chuyển từ một nền văn minh bị chi phối bởi kinh tế sang "xã hội văn hóa" mà "đặc quyền lợi ích của hệ sinh thái lên trên lợi ích cá nhân của các thành phần của nó, nhưng cuối cùng phù hợp với lợi ích chung tổng thể (Nafeez, Ahmed.
Biểu đồ các tác nhân gây mất rừng và suy thoái rừng theo khu vực, 2000–2010 (Nguồn: FAO & UNEP) Những nỗ lực để ngăn chặn hoặc làm chậm nạn phá rừng đã được cố gắng trong nhiều thế kỷ vì từ lâu người ta đã biết rằng phá rừng có thể gây ra thiệt hại về môi trường, trong một số trường hợp có thể khiến xã hội sụp đổ. Ở Tonga , các nhà cai trị tối cao đã phát triển các chính sách được thiết kế để ngăn chặn xung đột giữa lợi ích ngắn hạn từ việc chuyển đổi rừng sang đất nông nghiệp và các vấn đề lâu dài mà mất rừng sẽ gây ra, trong khi trong suốt thế kỷ 17 và 18 ở Tokugawa , Nhật Bản, các nước đã phát triển một hệ thống lập kế hoạch dài hạn rất phức tạp để ngăn chặn và thậm chí đảo ngược nạn phá rừng của các thế kỷ trước thông qua việc thay thế gỗ bằng các sản phẩm khác và sử dụng hiệu quả hơn đất đã được trồng trong nhiều thế kỷ. Một số công trình nghiên cứu liên quan đến quản lý, bảo bệ rừng Trên thế giới phương thức quản lý rừng tập trung dưới dạng quản lý nhà nước hoặc tư nhân đã có lịch sử từ rất lâu đời (Westoby, 1987, 1989; Dixon và Sherman, 1991; Harrison, 1992; Peluso, 1992; Vandergeest và 7 Peluso, 1995; Fay và Michon, 2003). Trong khi đó, quyền tiếp cận và sử dụng rừng lại thường bị lãng quên hoặc có sự đề cập một cách mờ nhạt (Peluso, 1992; Lynch và cs, 1995; Colchester, 2007).
Những vấn đề đó đã gây ra những phản ứng tiêu cực của người dân vùng với những tác động không mong muốn vào rừng (Hyakumura, 2010). Vì vậy, xu hướng xung trong quản lý bền vững tài nguyên rừng trên thế giới ngày càng phân quyền và khuyến khích sự tham gia của cộng đồng địa phương (Westoby, 1989; Fisher, 1999; Pei và cs, 2009; Tole, 2010) (Đoàn Tiến Vinh, 2013). Trong giai đoạn 1990 - 1995 ở các nước đang phát triển đã có hơn 65 triệu ha rừng bị mất. Tính đến năm 2000, diện tích rừng toàn thế giới, kể cả rừng tự nhiên và rừng trồng chỉ còn 3.869,455 triệu ha, tỷ lệ che phủ chỉ chiếm 29,6% lãnh thổ (Theo thống kê của FAO, 2005).
Cộng đồng quốc tế đã thành lập nhiều tổ chức, đề xuất và cam kết nhiều công ước bảo vệ và phát triển rừng như: Chiến lược bảo tồn quốc tế (1980, 1991); Tổ chức gỗ nhiệt đới quốc tế (ITTO năm 1983); Chương trình hành động của tổ chức Nông lương thực (FAO, 1985); Hội nghị của Liên hợp quốc về môi trường và phát triển (UNCED, Rio de Janeiro, 1992); Công ước về đa dạng sinh học (CBD, 1992); Công ước về chống sa mạc hóa (CCD, 1996); Hiệp định quốc tế về gỗ nhiệt đới (ITTA, 1997)… (FAO, 2005). Ở các quốc gia trên thế giới, việc nghiên cứu và thực hiện các chính sách quản lý cũng như đất rừng được thực hiện một cách chặt chẽ và luôn gắn liền với môi trường sinh thái, phát triển con người và thể chế chính trị của đất nước. Các nghiên cứu về Chương trình phát triển cộng đồng địa phương (gọi tắt là ELCDP) thực hiện bởi sự tài trợ của FAO với một số nghiên cứu chuyên đề tại nhiều nước đã khẳng định rằng, nguồn lợi chủ yếu từ quản lý rừng hay các hoạt động từ rừng cần thuộc về các cá nhân hay nhóm của các cộng đồng tham gia. Các nghiên cứu này đã tìm cách mô tả và phân tích các loại hình 8 quản lý tài nguyên rừng có sự tham gia của nhiều nước khác nhau.
Các vấn đề về tài liệu hóa, đào tạo đã được triển khai từ những năm 1985. Những trọng tâm về vấn đề xã hội liên quan đến quản lý rừng đã được nhấn mạnh, như: nếu những cây hoặc rừng không do người địa phương quan tâm và cơ chế hành chính (thể chế) không cho phép người dân tiếp cận lợi ích từ quản lý nó thì các dự án không bao giờ thực hiện được. Tại Philippin, năm 1997 chính phủ đã ban hành Điều luật quyền của người dân tộc bản địa (IPRA) - công nhận quyền của người dân tốc bản địa đối với đất đai do tổ tiên để lại và cam kết thực hiện các bổn phận quốc tế. Đến năm 2011, Philippin đã công nhận những quyền về đất đai theo phong tục tập quán (giấy chứng nhận quyền sở hữu đất, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) đã góp phần khẳng định vai trò ngày càng quan trọng của người dân bản địa đối với bảo vệ rừng và môi trường sinh thái.
Nó cũng khuyến khích khai thác gỗ theo quy chế, thu hái lâm sản, những cố gắng của cộng đồng trong việc trồng những loài cây gỗ có giá trị và những loài thực vật khác trong việc bảo tồn và phân loại thực vật theo luật tục và tri thức truyền thống (Lương Thị Trường và Orlando M. Ở Trung Quốc, trước những năm 1970 chính phủ đã chỉ đạo nhân dân trồng cây bằng biện pháp hành chính nên hiệu quả trồng rừng thấp, giữa lợi ích cộng đồng và lợi ích của người dân chưa có sự phối hợp chặt chẽ. Từ khi có luật Luật Lâm nghiệp năm 1984, toàn xã hội tham gia vào công tác lâm nghiệp và được Nhà nước khuyến khích hỗ trợ; từng bước đưa sản xuất lâm nghiệp vào hệ thống phát triển nông thôn để tăng trưởng kinh tế, loại bỏ nghèo nàn (Hoàng Thế Hùng, 2013). Cũng tại Trung Quốc, các quyền sử dụng đất không rõ ràng và không ổn định trong thập niên 80 đã dẫn đến tính trạng tài nguyên rừng và đất lâm nghiệp không được quản lý bền vững.
Ở giai đoạn này, Luật pháp chưa phân biệt rõ khái niệm rừng và đất rừng, các quy định cũng không xác định rõ ràng, dẫn đến xung đột về sự hưởng lợi, đặc biệt 9 là rừng do HGĐ quản lý. Bên cạnh đó, trách nhiệm của hình thức sở hữu tập thể cũng mập mờ, bởi định nghĩa thế nào là tập thể cũng khác nhau ở các thời kỳ và ở các địa phương (Romando và Reed, 2006b). Ở Châu Âu, đất rừng chủ yếu thuộc 2 dạng sở hữu chính là sở hữu công và sở hữu tư. Rừng thuộc sở hữu tư là những khu rừng do các cá nhân, HĐG và tập thể quản lý.
Trong khi đó, đất rừng được xác định thuộc sở hữu công là những vùng thuộc Nhà nước quản lý, hoặc thuộc các cấp trung ương, tỉnh, huyện và xã quản lý (Schmithusen, F.