CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ RỦI RO VẬN HÀNH TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Lịch sử quản lý rủi ro: - Nguyên lý quản lý rủi ro bắt đầu xuất hiện từ thế kỷ 17 cùng với sự phát triển của các nguyên lý về xác suất. Đến năm 1952 Harry Markowitz đã chứng minh bằng toán học rằng đa dạng hóa giúp giảm rủi ro và nâng cao kết quả dài hạn (ông đã được trao giải Nobel năm 1990). - Năm 1974 sự kiện ngân hàng Herstatt Bank sụp đổ dẫn đến việc thành lập Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (Thống đốc Ngân hàng trung ương của các nước G-10). Herstatt Bank là một ngân hàng tư nhân ở thành phố Cologne của Đức.
Ngân hàng phá sản vào ngày 26/06/1974 sau sự cố nổi tiếng liên quan đến rủi ro thanh toán trong giới tài chính quốc tế. Ngày 26/06/1974 cơ quan quản lý Nhà nước của Đức đã buộc ngân hàng Herstatt đang gặp vấn đề phải giải thể. Hôm đó, một loạt các ngân hàng đã gửi thanh toán bằng đồng DEM đến Herstatt ở Frankurt để đổi lấy USD, số tiền bằng USD này phải được chuyển tới New York. Vì khác múi giờ, Herstatt dừng hoạt động giữa các thời điểm thực hiện các khoản thanh toán nói trên, do đó các ngân hàng đối tác không nhận được tiền USD của họ.
Sau sự sụp đổ của Herstatt, các nước G-10 (G-10 thực ra có 11 nước thành viên: Bỉ, Canada, Pháp, Đức, Ý, Nhật Bản, Hà Lan, Thụy Sĩ, Thụy Điển, Anh, Mỹ, Luxembourg) đã thành lập Ủy ban thường trực dưới sự bảo trợ của Ngân hàng thanh toán quốc tế - Bank for International Settlements (BIS). Với tên gọi Ủy ban Basel Committee về giám sát ngân hàng, Ủy ban bao gồm đại diện từ các Ngân hàng trung ương và cơ quan giám sát có thẩm quyền của các quốc gia thành viên. Loại rủi ro thanh toán mà theo đó, một bên trong giao dịch hoán đổi 2 tiền tệ đã thanh toán đồng tiền mình bán để mua đồng tiền khác nhưng lại chưa nhận được đồng tiền mình mua đôi khi còn được gọi là rủi ro Herstatt. - Hiệp ước về vốn Basel Accord (Basel 1) được ban hành năm 1988 đưa ra những yêu cầu tối thiểu về vốn (tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu), đầu tiên chỉ tập trung vào rủi ro tín dụng, đến năm 1996 rủi ro thị trường được đưa vào Basel 1.
- Basel 2 đầu tiên được ban hành vào năm 2004, trong đó bao gồm cả rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường và rủi ro vận hành, đồng thời đưa ra nhiều phương pháp tính vốn khác nhau (chỉ số cơ bản – basic indicator, phương pháp chuẩn – standardized và phương pháp đo lường cao cấp – advanced measurement). - Sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008, Basel 3 đang được thảo luận để tiếp tục củng cố an toàn vốn cho các ngân hàng.2 Tổng quan về quản lý rủi ro vận hành tại NHTM: 1.1 Khái niệm về rủi ro vận hành và quản lý rủi ro vận hành: - Theo Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng, “rủi ro vận hành là rủi ro gây ra tổn thất do các nguyên nhân như con người, sự không đầy đủ hoặc vận hành không tốt các quy trình, hệ thống, các sự kiện khách quan bên ngoài. Rủi ro vận hành bao gồm cả rủi ro pháp lý nhưng loại trừ rủi ro chiến lược và rủi ro uy tín”. Đây là loại rủi ro có mặt trong hầu hết các hoạt động của Ngân hàng nhưng lại khó lường nhất và có thể mang lại những tổn thất lớn cho hệ thống ngân hàng thương mại như: thất thoát tài sản, giảm vốn kinh doanh, mất vốn, giảm uy tín….
- Rủi ro vận hành tại NHTM là những rủi ro vận hành trong các khâu sau: + Hoạt động giao dịch bao gồm: nhận dạng khách hàng, liên quan đến tác nghiệp trên hệ thống phần mềm quản lý dữ liệu ngân hàng như hạch toán sai đường dẫn hoặc sai tính chất nợ có, số tiền hoặc vàng trên tài khoản, không tuân thủ quy định, quy trình nghiệp vụ như không tuân thủ quy trình thu chi tiền mặt, quy trình kiểm soát, quy trình hạch toán chứng từ. 3 + Hoạt động tín dụng bao gồm: rủi ro pháp lý từ việc soạn thảo hợp đồng, liên quan đến tác nghiệp trên hệ thống phần mềm quản lý dữ liệu ngân hàng như không thay đổi lãi suất chính xác và kịp thời, không tuân thủ quy định, quy trình nghiệp vụ như giải ngân khi chưa phong tỏa tài sản cầm cố, không tuân thủ đúng, đủ phê duyệt của cấo thẩm quyền: giải ngân khi chưa bổ sung đủ chứng từ, sai phương thức giải ngân… + Hoạt động kho quỹ bao gồm: Thiếu quỹ, thừa quỹ, các rủi ro khác trong quản lý quỹ như không tuân thủ quy định ra vào kho tiền, để mất hoặc thất lạc chìa khóa cửa kho tiền. + Hoạt động khác bao gồm: Tham ô tài sản của ACB và khách hàng, nhân viên cấu kết khách hàng tạo lập hồ sơ giả mạo, hệ thống phần mềm quản lý dữ liệu ngân hàng bị nghẽn mạch, bị virus, tin tặc tấn công … - Mô hình rủi ro vận hành: Môi trường Môi trường nội bộ bên ngoài Con người Quy trình Công nghệ - Quản lý rủi ro là một phương pháp tiếp cận được cơ cấu để quản trị rủi ro thông qua: Đánh giá rủi ro, xây dựng chiến lược để quản lý và giảm thiểu rủi ro thông qua các nguồn lực quản lý. - Quản lý rủi ro truyền thống đặt trọng tâm vào nguồn gốc của rủi ro phát sinh từ vật chất hay luật pháp (ví dụ như thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn hay các vụ 4 kiện tụng ra tòa), còn quản lý rủi ro tài chính đặt trọng tâm vào các rủi ro có thể quản lý hay giảm thiểu bằng cách sử dụng các công cụ tài chính.
- Quản lý rủi ro sử dụng tất cả mọi phương tiện mà tổ chức có trong tay để nhận diện và giảm thiểu rủi ro. Mục đích của quản lý rủi ro là giảm thiểu các loại rủi ro khác nhau liên quan tới những lĩnh vực kinh doanh đã được lựa chọn trước đến một mức có thể chấp nhận đã được xác định trước. Tất cả mọi rủi ro không bao giờ có thể tránh được hoàn toàn hoặc giảm thiểu được một cách đơn giản vì còn tồn tại nhiều hạn chế về tài chính, thực tiễn. Vì thế, tất cả mọi tổ chức ở một mức độ nào đó phải chấp nhận phần rủi ro còn lại.
Doanh thu của ngân hàng đến từ chấp nhận rủi ro và chấp nhận rủi ro được tính vào “giá”. Mục tiêu của ngân hàng là quản lý rủi ro đúng đắn: Không rủi ro – Không lợi nhuận. - Trong khuôn khổ Basel 2, quản lý rủi ro vận hành không chỉ là ghi chép lại những thua lỗ hiện tại và dự đoán những thua lỗ trong tương lai. Đó còn là vấn đề quản lý chính các sự kiện, tức là giảm khả năng xảy ra của một sự kiện cũng như giảm các tác động tiềm năng.
- Quy trình quản lý rủi ro: Nhận biết rủi ro Đo lường và đánh giá rủi ro Chính sách rủi ro Giảm bớt rủi ro Báo cáo rủi ro Giám sát rủi ro Dựa vào những dữ liệu trong quá khứ, bộ phận rủi ro sẽ tập hợp rủi ro, đưa ra những rủi ro có thể xảy ra trong quá trình tác nghiệp để nhân viên nghiệp vụ có thể nhận biết rủi ro một cách rõ ràng cụ thể. Trên cơ sở nhận biết rủi ro thì bộ phận quản lý rủi ro sẽ tiến hành đo lường và đánh giá rủi ro dựa trên mức độ ảnh 5 hưởng của nó theo từng cấp độ, tần suất xuất hiện cũng như ảnh hưởng của nó để từ đó giảm bớt rủi ro (có thể triệt tiêu một số rủi ro ít xảy ra nhưng nếu xảy ra thì hậu quả rất khó lường, một số loại rủi ro thường hay xảy ra do lỗi bất cẩn nhưng lại ít gây nên hậu quả), giảm thiểu rủi ro để giảm chi phí vốn dành cho rủi ro vận hành để tăng thêm vốn đưa vào hoạt động kinh doanh. Các dấu hiệu rủi ro sẽ được tập hợp, giám sát tại bộ phận quản lý rủi ro chuyên trách, sau đó có trách nhiệm báo cáo lên Uỷ ban quản lý rủi ro, Ban điều hành và Hội đồng quản trị. Sau khi báo cáo rủi ro thì bộ phận quản lý rủi ro vận hành có nhiệm vụ thiết lập các chính sách rủi ro: phân tích các quy trình giao dịch, tín dụng …, các chỉ số rủi ro chính yếu, phân tích các tình huống rủi ro vận hành để từ đó nhận biết rõ rùi ro vận hành thường tập trung, xuất hiện ở lĩnh vực nào một cách cụ thể.2 Các loại rủi ro vận hành tại NHTM: 1.1 Rủi ro quy trình nội bộ: Rủi ro quy trình nội bộ được xác định như rủi ro gắn với sai sót của ngân hàng trong quy trình và quy chế.
Rủi ro quy trình nội bộ bao gồm: - Hồ sơ: chất lượng kém, không đầy đủ hoặc sai. - Thiếu sự kiểm soát. - Báo cáo sai hoặc thiếu. - Lỗi giao dịch.
Nhận dạng rủi ro: - Quy trình không được văn bản hóa. - Thiếu quy trình. - Có quy trình nhưng không đầy đủ, chặt chẽ, quy trình mập mờ, khó hiểu dẫn đến mỗi người hiểu theo một ý khác nhau. - Phân công, phân nhiệm không rõ ràng.
6 - Thiếu kiểm tra, kiểm soát thực hiện quy trình. - Không đào tạo, hướng dẫn thực hiện quy trình đầy đủ.2 Rủi ro hệ thống: Rủi ro hệ thống là rủi ro gắn liền với việc sử dụng công nghệ và các hệ thống. Ngày nay các ngân hàng dựa vào công nghệ và hệ thống rất nhiều để hỗ trợ các hoạt động hàng ngày của mình. Rủi ro hệ thống có thể xảy ra do: - Đầu cơ dữ liệu.
- Nhập dữ liệu sai. - Kiểm soát các thay đổi kém. - Kiểm soát các dự án kém. - Lỗi lập trình.
- Ỷ lại vào công nghệ hộp đen. - Ngắt quãng dịch vụ do đường truyền bị hư hỏng: lỗi một phần hoặc toàn phần. - Vấn đề an ninh hệ thống, ví dụ virus và tin tặc. - Sự phù hợp của hệ thống.
- Sử dụng công nghệ mới hoặc chưa qua kiểm định. Nhận dạng rủi ro: - Hệ thống thiếu tính thống nhất. - Hệ thống vận hành không hiệu quả, không an toàn. - Hệ thống phụ thuộc vào nhà cung cấp thứ ba, ví dụ dịch vụ mạng Internet.
- Hạ tầng kỹ thuật hỗ trợ yếu kém.3 Rủi ro do con người: Rủi ro con người được xác định như là một loại rủi ro liên quan đến nhân viên của ngân hàng.