1 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO VÀ QUẢN LÝ RỦI RO TRONG KINH DOANH ĐẦU TƢ XÂY DỰNG KHU CÔNG NGHIỆP. Khái quát dự án đầu tƣ, các phƣơng pháp đánh giá và lựa chọn dự án 1. Khái quát dự án đầu tƣ Dự án đầu tư là văn kiện mà ở đó bằng phương pháp khoa học, người ta luận cứ được tổng hợp các giải pháp kinh tế kỹ thuật về việc bỏ vốn để cải tạo hoặc xây dựng mới công trình, những biện pháp tổ chức khai thác để phục vụ nhu cầu của xã hội và đạt được hiệu quả kinh tế trong khoảng thời gian nhất định. Quá trình hình thành và phát triển của một dự án đầu tƣ Quá trình hình thành và phát triển của một dự án đầu tư (DAĐT) có thể chia làm 3 giai đoạn (giai đoạn chuẩn bị đầu tư, giai đoạn đầu tư và giai đoạn vận hành), cụ thể như sau: - Giai đoạn chuẩn bị đầu tư, bao gồm các bước như sau: + Nhận biết/ tìm kiếm cơ hội đầu tư, + Lập báo cáo nghiên cứu tiền khả thi (cho phép đầu tư về mặt chủ trương), + Lập báo cáo nghiên cứu khả thi (dự án khả thi) + Thẩm tra và phê duyệt báo cáo nghiên cứu khả thi.
- Giai đoạn đầu tư: + Giai đoạn thương lượng và hợp đồng, + Giai đoạn thiết kế dự án, + Giai đoạn xây dựng + Giai đoạn vận hành thử. - Giai đoạn vận hành: Trong 3 giai đoạn trên, giai đoạn chuẩn bị đầu tư tạo tiền đề quyết định sự thành công hay thất bại ở các giai đoạn sau, đặc biệt là ở giai đoạn vận hành. Theo các nghiên cứu trước đây, tổng chi phí cho giai đoạn chuẩn bị đầu tư chiếm từ 0,5-15% vốn đầu tư dự án. Giai đoạn chuẩn bị đầu tư này nếu thực hiện tốt sẽ tạo tiền đề cho việc sử dụng hiệu quả 85-99,5% vốn đầu tư còn lại của dự án trong các giai đoạn thực hiện đầu tư.
Điều này cũng tạo cơ sở cho quá trình hoạt động của dự án được thuận lợi, nhanh chóng phát huy hết năng lực phục vụ dự kiến. Do vậy, giai đoạn chuẩn bị đầu tư là rất quan trọng đối với dự án đầu tư và có thể được mô hình hóa như sau (đối với DA nhóm A và quan trọng quốc gia) 2 Kinh phí là một trong ba nhân tố hình thành một DA (kinh phí, quy mô, thời gian) Tổng mức đầu tư của DA được phân tích, tính toán và xác định trong giai đoạn lập báo cáo nghiên cứu tiền khả thi hoặc báo cáo khả thi của DA (là giới hạn chi phí tối đa của DA được xác định trong quyết định đầu tư). Các chi phí đầu tư sẽ được tính toán gần đúng (dựa vào các DA tương tự đã thực hiện, kinh nghiệm,.) chủ đầu tư phải dự kiến những lợi ích do DA mang lại để trình cấp có thẩm quyền cho phép đầu tư. Lúc này cần thiết phải có các thao tác phân tích tài chính DA đầu tư.
Phân tích hiệu quả dự án đầu tƣ. Các lĩnh vực cần phân tích của DA đầu tư: - Phân tích nhu cầu cơ bản; - Phân tích xã hội; - Phân tích kinh tế; - Phân tích tài chính; - Phân tích thị trường; - Phân tích kỹ thuật; - Phân tích nguồn lực. Mục đích của việc “phân tích tài chính” của DA đầu tư bao gồm: - Xem xét nhu cầu và sự đảm bảo các nguồn lực tài chính cho việc thực hiện có hiệu quả các DA đầu tư. - Xem xét tình hình, kết quả và hiệu quả hoạt động của DA trên góc độ tài chính của chủ đầu tư và theo quan điểm của tổng đầu tư (ngân hàng).
- Trong phân tích tài chính, các DA thông thường được đánh giá khác nhau dưới các quan điểm khác nhau. Quan điểm của DA đối với các nhà tài trợ vốn (ngân hàng) khác chủ đầu tư (chủ sở hữu). Một dự án tốt đối với các nhà đầu tư nhưng có thề không tốt đối với nền kinh tế vĩ mô và ngược lại, một DA rất có hiệu quả đối với nền kinh tế nhưng đôi khi lại không mang lại hiệu quả cho nhà đầu tư. Có thể nói dự án là tập hợp các quan hệ giao dịch mà qua đó các bên liên quan phải chịu những chi phí bỏ ra khác nhau và nhận về những lợi ích cũng sẽ khác nhau.
Một số quan điểm dùng để đánh giá dự án Có 4 quan điểm dùng để đánh giá hiệu quả dự án, cụ thể như sau: Quan điểm tổng đầu tƣ Theo quan điểm tổng đầu tư (còn gọi là quan điểm ngân hàng) xem xét một dự án là nhằm đánh giá sự an toàn của vốn vay mà dự án có thể cần. Do đó quan điểm tổng đầu tư xem xét tới tổng dòng ngân lưu chi cho DA (kể cả phần đóng thuế) và tổng dòng ngân lưu thu về (kể cả phần trợ cấp, trợ giá). Từ sự phân tích này các ngân hàng (nhà tài trợ vốn) sẽ xác định tính khả thi về mặt tài chính của DA, nhu cầu vay vốn của DA cũng như khả năng trả nợ và lãi vay của DA. Quan điểm chủ sở hữu Quan điểm chủ đầu tư còn gọi là quan điểm chủ sở hữu hay quan điểm cổ đông, quan điểm này xem xét giá trị thu nhập ròng còn lại của DA so với những gì họ có được trong trường hợp không thực hiện DA.
Theo quan điểm này, khi tính toán dòng ngân lưu phải cộng vốn vay ngân hàng vào dòng ngân lưu vào và trừ khoản trả lãi vay và nợ gốc ở dòng ngân lưu ra. Nói cách khác, chủ đầu tư quan tâm đến dòng ngân lưu ròng còn lại cho mình, sau khi đã thanh toán nợ vay. Quan điểm của nền kinh tế Khi sử dụng phân tích kinh tế để tính toán mức sinh lợi của DA theo quan điểm của toàn quốc gia, các nhà phân tích sử dụng “giá cả kinh tế” để xác định giá trị thực của các yếu tố nhập lượng và xuất lượng của DA. Những giá cả kinh tế này có tính đến thuế và trợ cấp.
Ngoài ra cần phải tính đến các yếu tố tích cực và tiêu cực mà DA gây ra. Một số DA thuộc lĩnh vực công như: bệnh viện, trường học, công viên, cơ sở hạ tầng, đường giao thông miễn phí .thì đánh giá DA về mặt tài chính có rất ít hoặc không có ý nghĩa mà chủ yếu đánh giá về mặt kinh tế - xã hội. Quan điểm ngân sách Đối với ngân sách quốc gia, các DA có thể gây ra nguồn chi ngân sách dưới dạng trợ cấp (trợ giá) hoặc cho vay ưu đãi nhưng đồng thời DA cũng sẽ tạo ra nguồn thu cho ngân sách nhà nước từ thu lệ phí hay các sắc thuế trực tiếp, gián tiếp. Quan điểm của ngân sách chỉ quan tâm đến những khoản sẽ phát sinh liên quan đến thu chi ngân sách mà thôi.
Tổng kết các quan điểm đánh giá dự án Quan điểm Xem xét Tổng dòng ngân lưu chi cho DA và tổng Quan điểm tổng đầu tư dòng ngân lưu thu vào Giá trị thu nhập ròng còn lại của DA so Quan điểm chủ sở hữu với trường hợp không thực hiện DA. Mức sinh lợi của DA theo quan điểm của Quan điểm của nền kinh tế toàn quốc gia. Những khoản chi phí sẽ phát sinh liên Quan điểm ngân sách quan đến thu chi ngân sách. Các phƣơng pháp đánh giá và lựa chọn dự án Có 2 nhóm phương pháp đánh giá và lựa chọn DA chính bao gồm nhóm phương pháp dòng tiền tệ chiết giảm và nhóm phương pháp truyền thống.
Phƣơng pháp dòng tiền tệ chiết giảm Phƣơng pháp giá trị tƣơng đƣơng Dựa trên khái niệm giá trị theo thời gian của đồng tiền, đưa tất cả các giá trị của dòng tiền tệ về một thời điểm tham chiếu nào đó. Nếu điểm tham chiếu là thời điểm hiện tại, khi đó ta có giá trị hiện tại của DA, ký hiệu PW (Present Worth) hay NPW (Net Present Worth). Nếu thời điểm tham chiếu là tương lai ta có giá trị tương lai của DA, ký hiệu FW (Future Worth). Ta cũng có thể tính toán trải đều dòng tiền của DA theo giá trị đều hàng năm, ký hiệu là AW (Annual Worth).
Trong thực tế, người ta dùng tiêu chuẩn NPV để đánh giá và so sánh các DA. Tiêu chuẩn đánh giá: - Dự án được xem là đáng giá nếu NPV ≥ 0 - Để so sánh 2 DA, ta chọn DA nào có giá trị NPV lớn hơn Phƣơng pháp suất thu lợi nội tại IRR Suất thu lợi nội tại IRR là suất chiếc khấu làm cho NPV của DA có giá trị bằng zero. Tiêu chuẩn đánh giá: được xem là đáng giá nếu IRR > MARR, trong đó MARR là suất thu lợi tối thiểu chấp nhận được. Phƣơng pháp tỷ số lợi ích/chi phí (B/C) Tiêu chuẩn đánh giá: 5 - Dự án được xem là đáng giá nếu B/C ≥ 1 - Để so sánh 2 DA, ta dùng phương pháp so sánh theo dòng tiền gia số ∆.
Nếu B/C(∆) ≥ 1, thì DA có vốn đầu tư lớn hơn là DA đáng giá hơn. Phƣơng pháp truyền thống Phƣơng pháp thời gian bù vốn (Tbv) Tbv là thời gian cần thiết để khoản lợi ích thu được bù lại chi phí đầu tư. Tiêu chuẩn đánh giá: - Dự án được xem là đáng giá nếu Tbv ≤ [Tbv], trong đó [Tbv] là thời gian bù vốn cho phép được quy định cho từng loại DA đầu tư. - Nếu hai DA có cùng lợi ích (mục tiêu) thì DA nào có Tbv nhỏ hơn thì DA đó tốt hơn.
Cần phải lưu ý đến các mục tiêu, giả thiết, ràng buộc khi so sánh các DA đầu tư. Phƣơng pháp điểm hòa vốn Trong phương pháp điểm hòa vốn, ta cần xác định sản lượng hòa vốn. Ở mức sản lượng hòa vốn, có tổng mức chi phí (bao gồm chi phí cố định và chi phí biến đổi) sẽ bằng tổng doanh thu. Dự án đáng giá nếu sản lượng bán được lớn hơn sản lượng hòa vốn.
Các khái niệm về khu công nghiệp, về tình hình phát triển khu công nghiệp 1. Khái niệm về khu công nghiệp Theo Quy chế khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao ban hành kèm theo nghị định 36/NĐ-CP ngày 24/04/1997 của Chính phủ, định nghĩa như sau: - “Khu công nghiệp”: là khu tập trung các doanh nghiệp KCN chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống; do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập. Trong KCN có thể có doanh nghiệp chế xuất.