CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Cơ sở lý luận về quản lý rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại 1.Những vấn đề chung về tín dụng ngân hàng 1.Khái niệm tín dụng ngân hàng “Tín dụng” xuất phát từ tiếng Latin là Creditium, có nghĩa là sự tin tưởng, tín nhiệm. Theo ngôn ngữ dân gian Việt Nam thì “tín dụng” được hiểu là sự vay mượn. Theo từ điển bách khoa toàn thư mở Wikipedia, tín dụng là một phạm trù kinh tế và nó là sản phẩm của nền kinh tế hàng hóa.
Tín dụng ra đời, tồn tại và phát triển qua nhiều hình thái kinh tế - xã hội. Quan hệ tín dụng được phát sinh ngay từ thời kỳ chế độ công xã nguyên thủy bắt đầu tan rã. Khi chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất xuất hiện, cũng đồng thời xuất hiện quan hệ trao đổi hàng hóa thì tín dụng được thực hiện dưới hình thức vay mượn bằng hiện vật - hàng hóa. Về sau, tín dụng đã chuyển sang hình thức vay mượn bằng tiền tệ.
Tín dụng có thể được xem là sự chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng một lượng giá trị dưới hình thức hiện vật hay tiền tệ từ người sở hữu sang người sử dụng và sau đó hoàn trả lại với một lượng giá trị lớn hơn. Nó thể hiện ở ba nội dung: sự chuyển giao quyền sử dụng một lượng giá trị từ người này sang người khác; sự chuyển giao này mang tính tạm thời và khi hoàn lại lượng giá trị đã chuyển giao cho người sở hữu phải trả kèm theo một lượng giá trị dôi thêm gọi là lợi tức. ” “Thực chất, tín dụng là biểu hiện mối quan hệ kinh tế gắn liền với quá trình tạo lập và sử dụng quỹ tín dụng nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu vốn tạm thời cho quá trình tái sản xuất và đời sống, theo nguyên tắc hoàn trả." "Theo Nguyễn Minh Kiều (2012), tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng trong một thời hạn nhất định với một khoản chi phí nhất định. " Cũng như quan hệ tín dụng khác, tín dụng ngân hàng chứa đựng ba nội dung sau: 6 - Có sự chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ người sở hữu sang cho người sử dụng.
- Sự chuyển nhượng này có thời hạn hay mang tính chất tạm thời. - Sự chuyển nhượng này có kèm theo chi phí. “Theo Điều 20 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, hoạt động cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh Ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác. “ “Hoạt động tín dụng là hoạt động sử dụng vốn quan trọng nhất, quyết định đến khả năng tồn tại và phát triển của NHTM.
Hoạt động tín dụng cùng với hoạt động đầu tư cấu thành bộ phận chủ yếu và quan trọng của tài sản Có của NHTM. “ Từ các nội dung trên, có thể thể hiểu: “Tín dụng của NHTM là việc thỏa thuận để khách hàng sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh Ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác.Vai trò của tín dụng ngân hàng Đối với nền kinh tế, xã hội “- Tín dụng góp phần thúc đẩy sản xuất lưu thông hàng hóa phát triển: Tín dụng có những đóng góp đáng kể trong sự phát triển của kinh tế xã hội. Việc cấp tín dụng góp phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển. Cấp tín dụng còn là công cụ tài trợ cho các ngành kém phát triển, các ngành kinh tế mũi nhọn trong chiến lược phát triển kinh tế của đất nước, là điều kiện hết sức quan trọng thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng ổn định và bền vững.” “- Góp phần ổn định tiền tệ, giá cả: Tín dụng góp phần ổn định tiền tệ, ổn định giá cả và kiềm chế, kiểm soát lạm phát.
Thông qua cấp tín dụng, góp phần làm cho tốc độ luân chuyển hàng hóa và tiền vốn tăng lên. Lượng tiền tồn đọng trong lưu thông giảm nhưng mối quan hệ tiền – hàng vẫn cân đối làm cho hệ thống giá cả không bị biến động lớn. Ngoài ra, hoạt động tín dụng tạo điều kiện mở rộng công tác thanh toán không dùng tiền mặt. Đây là một trong những nhân tố tích cực tiết giảm lượng 7 tiền mặt trong lưu thông, giúp cho Nhà nước quản lý và điều hành hữu hiệu chính sách tiền tệ.” “- Góp phần ổn định đời sống, tạo công ăn việc làm, ổn định trật xã hội: Do đặc tính phân bố rộng khắp nên các doanh nghiệp có thể đảm bảo cơ hội việc làm cho nhiều vùng địa lý và nhiều đối tượng lao động, đặc biệt là với các vùng sâu vùng xa, vùng chưa phát triển kinh tế, với các đối tượng lao động có trình độ tay nghề thấp.
Nhờ vậy, họ vừa giải quyết thất nghiệp vừa góp phần giảm dòng người chuyển về thành phố tìm việc làm." "- Cung cấp cho xã hội một khối lượng hàng hoá đáng kể về cả chất lượng, số lượng và chủng loại. Các doanh nghiệp thu hút một lượng lớn lao động và tài nguyên của xã hội để sản xuất ra hàng hoá đa dạng về chất lượng và chủng loại, tạo cho người tiêu dùng có nhiều cơ hội được lựa chọn. " "- Tăng nguồn tiết kiệm và đầu tư cho dân địa phương. Nhìn chung các doanh nghiệp được mở ra ở địa phương nào đều có công nhân và chủ doanh nghiệp là người ở địa phương đó.
Khi các doanh nghiệp loại đó được mở ra thì người dân lao động ở địa phương có công ăn việc làm, có nguồn thu nhập. Kết quả là quỹ tiền tiết kiệm - đầu tư của địa phương đó được bổ sung. ” Đối với khách hàng ”Tín dụng góp phần tăng tiềm lực tài chính, nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Trong nền kinh tế thị trường, hiếm có doanh nghiệp nào chỉ sử dụng vốn tự có để hoạt động sản xuất kinh doanh, bởi vì điều đó không những hạn chế khả năng mở rộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mà còn làm tăng chi phí vốn.
Hiện nay, để thực hiện các quyết định đầu tư các doanh nghiệp thường thích sử dụng vốn vay. Nếu doanh nghiệp thu được lợi nhuận từ tiền vay lớn hơn lãi phải trả thì thì lợi nhuận dành cho chủ doanh nghiệp gia tăng đáng kể. Tuy nhiên việc tăng sử dụng nợ làm tăng rủi ro của các luồng tiền vào công ty nhưng cũng phải nói rằng tỷ lệ nợ cao thường dẫn đến mức lãi suất mong đợi cao hơn. Bởi vậy, doanh nghiệp sử dụng vốn vay từ ngân hàng hay vay vốn tín dụng sẽ góp phần hình thành cơ cấu vốn tối ưu cho doanh nghiệp.
” 8 “Với điều kiện ràng buộc về lãi suất, thời gian và mục đích khi vay, người vay hiểu rõ trách nhiệm của họ trong việc sử dụng vốn vay và phải thúc đẩy sản xuất kinh doanh của mình sao cho đạt hiệu quả cao nhất. Như vậy cấp tín dụng của ngân hàng góp phần thúc đẩy việc hạch toán kinh doanh của các doanh nghiệp và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. ” “Ngoài ra ngân hàng có thể cung cấp vốn cần thiết cho các doanh nghiệp để đổi mới trang thiết bị, đổi mới công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, tìm kiếm thị trường, nâng cao trình độ của nhân viên. do đó tạo cho doanh nghiệp khả năng cạnh tranh trên thị trường.
” Đối với ngân hàng ” Cấp tín dụng là một trong những hoạt động chính của ngân hàng, nó thường chiếm tỷ trọng 60% - 70% trong kết cấu tài sản Có của ngân hàng. Do đó, việc thực hiện cấp tín dụng có hiệu quả sẽ góp phần tạo ra lợi nhuận. Ngoài ra, thông qua việc cấp tín dụng cho khách hàng sẽ giúp cho ngân hàng có cơ hội tiếp cận với các bạn hàng của doanh nghiệp như nhà cung ứng, nhà phân phối… tạo điều kiện cho Ngân hàng giới thiệu, quảng sản phẩm dịch vụ của mình. Đây là cơ hội để gia tăng số lượng khách hàng giao dịch nhằm mở rộng thị phần đồng thời nâng cao thương hiệu của Ngân hàng trên thị trường.
Phân loại tín dụng ngân hàng Có nhiều cách phân loại tín dụng khác nhau căn cứ theo yêu cầu của khách hàng và mục tiêu quản lý của ngân hàng, có thể phân phân loại tín dụng ngân hàng như sau: a. Phân loại theo thời gian tín dụng “Phân chia theo thời gian có ý nghĩa quan trọng đối với ngân hàng vì thời gian liên quan mật thiết đến tính an toàn và sinh lời của tín dụng cũng như khả năng hoàn trả của khách hàng. Theo thời gian, tín dụng được phân thành:“ “-Tín dụng ngắn hạn: là những khoản tín dụng có thời hạn từ 12 tháng trở xuống. Ngân hàng cấp tín dụng ngắn hạn nhằm tài trợ cho nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp.” 9 “-Tín dụng trung hạn: là những khoản tín dụng có thời hạn trên 1 năm đến 5 năm.
Khoản tín dụng này thường được sử dụng để đầu tư đổi mới, nâng cấp cơ sở hạ tầng kỹ thuật, thiết bị công nghệ hoặc mở rộng sản xuất.” “- Tín dụng dài hạn: là những khoản tín dụng trên 5 năm. Các khoản này thường dùng để đầu tư vào vốn cố định của doanh nghiệp, các lĩnh vực xây dựng cơ bản, bất động sản, phương tiện vận tải…. Phân loại theo mục đích sử dụng tiền vay “-Tín dụng sản xuất: Là loại tín dụng mà doanh nghiệp sử dụng vốn chuyên để sản xuất ra sản phẩm hàng hóa. Tín dụng sản xuất gồm tín dụng nông nghiệp, công nghiệp, lâm – ngư nghiệp.” “-Tín dụng lưu thông: Là loại tín dụng mà khách hàng sử dụng vốn vay chuyên để kinh doanh hàng hóa, dịch vụ.
Tín dụng lưu thông gồm có tín dụng thương mại (mua – bán kinh doanh hàng hóa nội địa, kinh doanh xuất – nhập khẩu); tín dụng kinh doanh dịch vụ. Phân loại theo tài sản đảm bảo Tài sản đảm bảo là tài sản mà bên bảo đảm dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự với bên nhận bảo đảm. “Tài sản đảm bảo các khoản tín dụng cho phép ngân hàng có được nguồn thu lợi thứ hai bằng cách bán các tài sản đó khi nguồn thu nợ thứ nhất (từ quá trình sản xuất kinh doanh) không có hoặc không đủ.