Chương 1: Những lý luận cơ bản về quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Thương mại 7 Chương 2: Thực trạng quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Thăng Long Chương 3: Giải pháp tăng cường quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Thăng Long 8 CHƢƠNG 1 NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.RỦI RO TÍN DỤNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.Khái niệm tín dụng ngân hàng Tín dụng cũng là một sản phẩm của nền kinh tế hàng hóa, ngay khi chế độ tƣ hữu về tƣ liệu sản xuất xuất hiện. Trải qua tiến trình phát triển với nhiều hình thái kinh kế khác nhau, tín dụng cũng xuất hiện với nhiều hình thái khác nhau. Vì vậy, trên thực tế có nhiều định nghĩa về tín dụng. Song có thể hiểu chung nhất về tín dụng nhƣ là một phạm trù kinh tế phát sinh giữa hai bên chủ thể một bên là ngƣời cho vay và bên còn lại là ngƣời đi vay.
Mối quan hệ kinh tế này phát sinh khi hai bên có thỏa thuận với nhau việc cho ngƣời cho vay cho ngƣời đi vay sử dụng một khoản tiền nhất định của mình theo nguyên tắc có hoàn trả và kèm thêm lãi nếu có. Đối với một NHTM, tín dụng NHTM là hoạt động cơ bản và đặc trƣng. Tín dụng NHTM mang đầy đủ các đặc điểm, tính chất của tín dụng. Nó chỉ cụ thể hóa bên cấp tín dụng chính là các NHTM.
Theo luật các tổ chức tín dụng 47/2010/QH12 thì hoạt động tín dụng tại các NHTM là:“Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”. Từ định nghĩa có thế thấy hoạt động tín dụng có nhiều hình thức khác nhau trong đó hoạt động cho vay là hoạt động quan trọng nhất và chiếm tỷ trọng cao nhất trong hoạt động kinh doanh của các Ngân hàng Thƣơng mại. Vì vậy, trong khuôn khổ của luận văn sẽ tiếp cận tín dụng ngân hàng chủ yếu 9 dƣới khía cạnh quan hệ tín dụng cho vay. Đồng thời, do đặc điểm của tín dụng có nhiều hình thức khác nhau.
Vì vậy, việc phân loại tín dụng nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý tín dụng ở ngân hàng, giúp ngân hàng xác định đƣợc cơ cấu cho vay có phù hợp với tính chất nguồn vốn của ngân hàng hay không, có bảo đảm an toàn không. Chính vì vậy mà hiện nay có rất nhiều tiêu thức để phân loại tín dụng để phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế thị trƣờng, cụ thể nhƣ sau: Tiêu thức 1: Theo thời hạn cho vay thì tín dụng được chia làm ba loại: - Tín dụng ngắn hạn: là loại tín dụng có thời hạn từ một năm (12 tháng) trở xuống, thƣờng đƣợc cho vay để bổ xung thiếu hụt tạm thời về vốn lƣu động của các doanh nghiệp, cá nhân. và cho vay phục vụ nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng của cá nhân, hộ gia đình. - Tín dụng trung hạn: là loại tín dụng có thời hạn từ trên 1 năm đến 5 năm.
Loại tín dụng này để cho vay vốn phục vụ nhu cầu mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng và sử dụng các công trình nhỏ có thời gian thu hồi vốn nhanh. - Tín dụng dài hạn: là loại tín dụng có thời hạn từ trên 5 năm. Loại tín dụng này dùng để cung cấp vốn cho xây dựng cơ bản, cải tiến và mở rộng sản xuất có quy mô lớn. Tín dụng dài hạn có giá trị lớn, thời gian thu hồi vốn lâu hơn.
Tiêu thức 2: Theo đối tượng đầu tư thì tín dụng được chia làm 2 loại: - Tín dụng vốn lƣu động: là loại tín dụng đƣợc cấp nhằm hình thành vốn lƣu động của doanh nghiệp hay cho vay để bù đắp mức vốn lƣu động thiếu hụt tạm thời. Loại tín dụng này thƣờng đƣợc chia thành các loại cho vay dự trữ hàng hoá, cho vay chi phí sản xuất và cho vay để thanh toán các khoản nợ dƣới hình thức khấu trừ chứng từ có giá. - Tín dụng vốn cố định là loại tín dụng đƣợc cấp nhằm hình thành nên vốn cố định của doanh nghiệp. Loại tín dụng này thƣờng đƣợc sử dụng cho nhu cầu 10 đầu tƣ mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng sản xuất, xây dựng các công trình mới, thời hạn cho vay đối với loại tín dụng này là trung hạn và dài hạn.
Ngoài ra để phân loại tín dụng ngƣời ta còn căn cứ vào nhiều tiêu thức khác: - Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn, tín dụng đƣợc chia thành: cho vay bất động sản, cho vay thƣơng mại dịch vụ, cho vay nông nghiệp, cho vay tiêu dùng. - Căn cứ vào tính chất bảo đảm của tín dụng có thể chia thành tín dụng có bảo đảm và tín dụng không có bảo đảm. - Căn cứ vào hình thái giá trị tín dụng có thể chia thành cho vay bằng tiền hay cho vay bằng tài sản. - Căn cứ vào mức lãi suất, ngƣời ta phân biệt tín dụng thƣơng mại và tín dụng ƣu đãi.
- Căn cứ vào phƣơng pháp hoàn trả có các hình thức cho vay trả góp, cho vay phí trả góp và cho vay hoàn trả theo yêu cầu.Khái niệm rủi ro tín dụng Hiện nay, chƣa có một khái niệm chung nào về rủi ro tín dụng. Sau đây là một số quan niệm về rủi ro tín dụng thƣờng đƣợc sử dụng: - Quan điểm thứ nhất, theo ủy ban Basel 2: “Rủi ro tín dụng là khả năng mà khách hàng vay hoặc bên đối tác không thực hiện được các nghĩa vụ của mình theo những điều khoản đã thỏa thuận”. - Quan điểm thứ hai, theo Thông tƣ 02/2013/TT-NHNN của Thống đốc Ngân hàng Nhà nƣớc: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết. - Quan điểm thứ ba, theo quan điểm của Ngân hàng thế giới (WB): “Rủi ro tín dụng tức là việc chi trả một khoản tín dụng bị trì hoãn, hoặc tồi tệ 11 hơn là không chi trả được toàn bộ.
Điều này gây ra sự cố đối với dòng chu chuyển tiền tệ và ảnh hưởng tới khả năng thanh khoản của ngân hàng”. Nhƣ vậy, rủi ro tín dụng có thể hiểu một cách ngắn gọn là những thiệt hại tiềm tàng mà ngân hàng phải gánh chịu do khách hàng vay vốn không thực hiện hoặc chỉ thực hiện một phần các nghĩa vụ đã cam kết trong hợp đồng tín dụng với bất kỳ lý do nào.Các chỉ tiêu phản ánh rủi ro tín dụng Các nghiệp vụ tín dụng là nghiệp vụ chính bên khoản mục tài sản của các Ngân hàng thƣơng mại và là một trong những hoạt động đem lại nhiều lợi nhuận nhất cho các Ngân hàng thƣơng mại nói chung và các NHTM nói riêng. Các NHTM mại thƣờng sử dụng các chỉ tiêu mang tính chất có thể lƣợng hóa đƣợc để đánh giá mức độ rủi ro của danh mục các khoản tín dụng của ngân hàng mình. - Tốc độ tăng trưởng tín dụng, cơ cấu dư nợ tín dụng: Tốc độ tăng trƣởng tín dụng là chỉ tiêu tƣơng đối phản ánh sự tăng trƣởng về dƣ nợ tín dụng của một ngân hàng.
Ngân hàng thƣơng mại là một tổ chức kinh doanh tiền tệ với tín dụng là một trong những hoạt động chính, vì vậy tốc độ tăng trƣởng tín dụng phản ánh tình hình kinh doanh của ngân hàng có tăng trƣởng hay không. Tuy nhiên, tốc độ tăng trƣởng tín dụng cần đƣợc xem xét toàn diện để thấy việc tăng trƣởng tín dụng của ngân hàng có hiệu quả hay không. Tốc độ tăng trƣởng tín dụng của danh mục tín dụng cần đƣợc đánh giá so sánh với tƣơng quan tốc độ tăng trƣởng của nền kinh tế. Do NHTM là kênh tạo tiền cho nền kinh tế, tốc độ tăng trƣởng tín dụng quá nhanh, lớn hơn tốc độ tăng trƣởng chung của nền kinh tế dẫn tới tình trạng nền kinh tế không thể hấp thụ vốn kịp, vốn bơm vào nền kinh tế sử dụng không hiệu quả, dẫn tới nguy cơ khả năng mất vốn.
Cơ cấu tín dụng: cơ cấu về thời hạn cho vay và cơ cấu theo ngành nghề kinh tế là một tiêu chí đánh giá mức độ rủi ro của danh mục tín dụng của một ngân 12 hàng. Cơ cấu cho vay ngắn hạn và cho vay trung dài hạn của một ngân hàng cần cân đối tƣơng xứng với cơ cấu huy động vốn của ngân hàng đó, tránh tình trạng mất cân đối thời hạn trong cho vay nhƣ thời hạn cho vay của danh mục tín dụng quá ngắn so với thời hạn huy động chung của danh mục tín dụng dẫn tới kém hiệu quả, trong khi thời hạn cho vay của danh mục tín dụng quá dài hơn so với thời hạn huy động của danh mục dẫn tới nguy cơ mất cân đối về thời hạn và thanh khoản khi tới hạn thanh toán các khoản huy động vốn. - Mức độ tập trung dư nợ: Đây là chỉ tiêu phản ánh dƣ nợ của NHTM đang tập trung vào một nhóm số lƣợng khách hàng lớn nào. Trên tiêu chí kinh doanh rủi ro “ không nên bỏ trứng vào cùng một giỏ”.
Vì vậy, nếu một ngân hàng tập trung dƣ nợ quá lớn vào một vài khách hàng thì có thể dẫn tới rủi ro khi tình hình kinh doanh của khách hàng không thuận lợi, làm cả danh mục tín dụng của ngân hàng có thể bị ảnh hƣởng theo. Điều này đòi hỏi, ngân hàng cần tích cực mở rộng nền khách hàng cũng nhƣ gia tăng số lƣợng khách hàng lớn, khách hàng VIP. - Cơ cấu cho vay theo ngành nghề : Cơ cấu tín dụng theo ngành nghề cũng là chỉ tiêu để đánh giá mức độ rủi ro của một ngân hàng. Do đặc thù một số ngành nghề hoạt động kinh doanh có mức độ rủi ro lớn hơn các ngành nghề khác nhƣ kinh doanh bất động sản, đầu tƣ chứng khoán, xây dựng,.
thƣờng đƣợc đánh giá là rủi ro hơn so với lĩnh vực sản xuất; thƣơng mại. Ngành nghề đƣợc xem xét là rủi ro cao hơn còn tùy thuộc vào đánh giá cũng nhƣ bối cảnh kinh tế trong từng giai đoạn.