phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 4 chƣơng: - Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý rủi ro tín dụng ngân hàng thƣơng mại. - Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu - Chƣơng 3: Thực trạng quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng No & PTNT Việt Nam. - Chƣơng 4: Giải pháp hoàn thiện quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng No & PTNT Việt Nam. 4 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG NHTM 1.
Một số khái niệm liên quan đến đề tài 1. Ngân hàng thương mại và hoạt động tín dụng của NHTM Ngân hàng thƣơng mại là một trong các tổ chức tài chính quan trọng nhất trong nền kinh tế. Ngân hàng gồm nhiều loại tùy thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế và hệ thống tài chính, trong đó ngân hàng thƣơng mại (NHTM) thƣờng chiếm tỷ trọng lớn nhất về thị phần, quy mô tài sản, số lƣợng các ngân hàng, là tổ chức thu hút tiết kiệm lớn nhất của hầu hết các nền kinh tế. Ngân hàng thƣơng mại hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận nhƣng khác với các tổ chức kinh tế khác ở chỗ đối tƣợng kinh doanh của ngân hàng là tiền tệ với hoạt động chủ yếu là huy động tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế để cho vay, đáp ứng nhu cầu vốn một cách hợp lý của bộ phận cần vốn trong nền kinh tế.
Cũng nhƣ tất cả các ngành kinh doanh khác, kinh doanh ngân hàng cũng đối mặt với rất nhiều rủi ro. Rủi ro đến từ những nguy cơ tiềm ẩn nhƣ sự không trung thực của khách hàng, vốn vay bị sử dụng sai mục đích, khách hàng phá sản hay do suy thoái kinh tế, đạo đức nghề nghiệp của cán bộ ngân hàng… thậm chí khi hệ thống pháp luật chƣa hoàn chỉnh cũng tạo điều kiện cho những ý đồ xấu của khách hàng hay cán bộ ngân hàng chiếm đoạt tài sản. Rủi ro tín dụng là mối đe dọa mà tất cả các NHTM phải đối mặt. Nhiệm vụ quan trọng và trọng tâm của quản lý các NHTM là phải nâng cao chất lƣợng tín dụng, đƣa ra các biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng đối với các các thành phần kinh tế.
“Ngân hàng thƣơng mại là một loại hình tổ chức tín dụng đƣợc thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động khác có liên quan” (Luật tín dụng do Quốc hội khóa X thông qua ngày 12 tháng 12 năm 1997). “Ngân hàng thƣơng mại là loại hình ngân hàng đƣợc thực hiện tất cả các hoạt động của ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận” (Luật các Tổ chức Tín dụng do Quốc hội nƣớc CHXHCNVN khóa XII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 16/6/2010, có hiệu lực từ ngày 01/01/2011). 5 Ngày nay hoạt động của các NHTM đã trở lên rất đa dạng và kết nối với hầu hết các thành phần, lĩnh vực khác nhau trong nền kinh tế. Tuy nhiên về cơ bản, NHTM vẫn luôn luôn thực hiện các chức năng vốn có của mình.
Hay nói cách khác, NHTM vẫn thực hiện các chức năng cơ bản. Các chức năng cơ bản của ngân hàng thương mại a/ Chức năng trung gian tín dụng Ngân hàng là trung gian tín dụng với hoạt động chủ yếu là chuyển tiết kiệm thành đầu tƣ, là cầu nối giữa 2 nhóm: Nhóm 1: Các cá nhân và tổ chức có thặng dƣ vốn tạm thời hoặc có tiền tiết kiệm nhàn rỗi có kỳ hạn xác định nên họ có nhu cầu gửi tiết kiệm để an toàn và gia tăng giá trị. Nhóm 2: Các cá nhân và tổ chức tạm thời thiếu hụt vốn do phát sinh nhu cầu hoặc điều kiện mới hay thiếu vốn có tính toán trƣớc để đầu tƣ sản xuất kinh doanh nhƣ vốn lƣu động, vốn đầu tƣ tài sản cố định… vì thế cần bổ sung vốn. Sự tồn tại của hai nhóm trên hoàn toàn độc lập với ngân hàng.
Điều tất yếu là thông qua ngân hàng, tiền sẽ đƣợc chuyển từ nhóm 1 đến nhóm 2 nếu cả hai cùng có lợi. Nhƣ vậy, giá trị gia tăng là động lực tạo ra mối quan hệ tài chính giữa hai nhóm. “Các ngân hàng thƣơng mại đã trở thành những “cỗ máy biến thế” biến đổi cơ cấu và thời hạn của dòng vốn chu chuyển trong nền kinh tế” (Nguyễn Thị Thanh Sơn- Kỷ yếu hội thảo nâng cao năng lực quản trị rủi ro của ngân hàng thƣơng mại- NXB Phƣơng Đông). Nhƣ vậy, với chức năng trung gian tín dụng của mình, NHTM đã trở thành trung tâm tiếp nhận và biến đổi rủi ro của toàn bộ nền kinh tế.
b/ Chức năng trung gian thanh toán Ở hầu hết các quốc gia hiện nay, ngân hàng là trung tâm thanh toán lớn nhất. Thay mặt khách hàng, ngân hàng thực hiện thanh toán giá trị hàng hóa và dịch vụ, thúc đẩy quá trình lƣu thông hàng hóa, tiết kiệm chi phí, từ đó giúp ngân hàng kiểm soát đƣợc lƣợng tiền cung ứng trên thị trƣờng, kiểm soát đƣợc dòng tiền cho vay. Thông qua các nghiệp vụ thanh toán, NHTM trở thành ngƣời thủ quỹ của các doanh 6 nghiệp. Với việc mở tài khoản tại các ngân hàng và sử dụng các công cụ thanh toán của ngân hàng, doanh nghiệp không cần sử dụng tiền mặt, việc thanh toán đƣợc nhanh chóng, thuận tiện và hạn chế rủi ro rất nhiều.
Có nhiều công cụ thanh toán nhƣ thanh toán bằng séc, ủy nhiệm chi, nhờ thu, các loại thẻ…Các ngân hàng còn thực hiện việc thanh toán bù trừ với nhau thông qua ngân hàng Trung ƣơng hoặc thông qua trung tâm thanh toán. Nhiều hình thức thanh toán đƣợc chuẩn hóa góp phần tạo tính thống nhất trong thanh toán, không chỉ trong một quốc gia mà còn giữa các quốc gia với nhau trên toàn thế giới, làm tăng hiệu quả thanh toán qua ngân hàng, biến ngân hàng thành trung tâm thanh toán vô cùng quan trọng, hiệu quả, phục vụ đắc lực cho nền kinh tế toàn cầu. c/ Chức năng tạo tiền Tạo tiền là một chức năng quan trọng, phản ánh rõ bản chất của NHTM. Với mục tiêu là tìm kiếm lợi nhuận nhƣ một yêu cầu chính cho sự tồn tại và phát triển của mình, các NHTM với nghiệp vụ kinh doanh mang tính đặc thù của mình đã vô hình chung thực hiện chức năng tạo tiền cho nền kinh tế.
Chức năng tạo tiền đƣợc thực thi trên cơ sở hai chức năng trên của NHTM là chức năng tín dụng và chức năng thanh toán. Thông qua chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng sử dụng số vốn huy động đƣợc để cho vay, số tiền cho vay ra lại đƣợc khách hàng sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ trong khi số dƣ trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng vẫn đƣợc coi là một bộ phận của tiền giao dịch, đƣợc họ sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ… Với chức năng này, hệ thống NHTM đã làm tăng tổng phƣơng tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội, NHTM tạo tiền phụ thuộc vào tỉ lệ dự trữ bắt buộc của ngân hàng trung ƣơng đã áp dụng với NHTM, do vậy ngân hàng trung ƣơng có thể tăng tỉ lệ này khi lƣợng cung tiền vào nền kinh tế lớn. Hoạt động tín dụng ngân hàng thương mại Ngân hàng thƣơng mại đóng vai trò quan trọng trong sự tồn tại và phát triển của bất cứ một nền kinh tế hiện đại nào, kinh doanh ngân hàng là một lĩnh vực kinh doanh đặc biệt với hàng hóa kinh doanh là tiền tệ. 7 Tín dụng ngân hàng là một quan hệ chuyển nhƣợng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng sang khách hàng trong một khoảng thời gian nhất định với khoản chi phí nhất định.
Tín dụng ngân hàng đƣợc phân loại theo những tiêu chí khác nhau: + Căn cứ vào mục đích của tín dụng: Cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh: Khách hàng có nhu cầu vay vốn để thanh toán chi phí, mua hàng nhƣ nguyên vật liệu, nhân công, … phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh. Cho vay tiêu dùng cá nhân: Khách hàng có nhu cầu vay vốn để phục vụ các mục đích tiêu dùng cá nhân. + Căn cứ vào thời hạn cho vay: Cho vay ngắn hạn: Là loại cho vay với thời hạn đến 1 năm. Cho vay trung hạn: Là loại cho vay có thời hạn từ 1 năm đến 5 năm.
Cho vay dài hạn: Là loại cho vay có thời hạn từ 5 năm trở lên. Rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại 1. Khái niệm rủi ro tín dụng Theo Thomas P.Fitch: Rủi ro tín dụng là loại rủi ro xảy ra khi ngƣời vay không thanh toán đƣợc nợ theo thoả thuận hợp đồng dẫn đến sai hẹn nghĩa vụ trả nợ. Cùng với rủi ro lãi suất, rủi ro tín dụng là một trong những rủi ro chủ yếu trong hoạt động cho vay của ngân hàng.Roch: Một khi ngân hàng nắm giữ tài sản sinh lời, rủi ro xảy ra khi khách hàng sai hẹn - có nghĩa là khách hàng không thanh toán vốn gốc và lãi theo thoả thuận.
RRTD là sự thay đổi tiềm ẩn của thu nhập thuần và thị giá của vốn xuất phát từ việc khách hàng không thanh toán hay thanh toán trễ hẹn. Về mặt định lượng: Rủi ro tín dụng đƣợc phản ánh bởi chính số lƣợng nợ quá hạn, nợ đọng của mỗi tổ chức tín dụng. Về mặt định tính: Rủi ro tín dụng có quan hệ ngƣợc chiều với chất lƣợng tín dụng. Theo đó chất lƣợng tín dụng càng cao thì mức độ rủi ro càng thấp và ngƣợc 8 lại, chất lƣợng tín dụng thấp, nợ quá hạn cao thì rủi ro tín dụng là rất lớn và có tác động ảnh hƣởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh ngân hàng.
Rủi ro tín dụng phát sinh khi ngân hàng cấp tín dụng cho khách hàng. Tất cả các hình thức cấp tín dụng của ngân hàng bao gồm cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn, cho thuê tài chính, chiết khấu chứng từ có giá, tài trợ xuất nhập khẩu, tài trợ dự án, bao thanh toán và bảo lãnh đều chứa đựng rủi ro tín dụng. Theo quy định của Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam tại Thông tƣ số 13/2010/TT-NHNN ngày 20/05/2010 quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong các hoạt động của tổ chức tín dụng: “Rủi ro tín dụng là rủi ro do biến động bất thƣờng của khách hàng có quan hệ tín dụng với ngân hàng dẫn đến khách hàng không trả đƣợc nợ vay” .