CHƯƠNG 1: C ơ SỎ LÝ LUẬN VẺ QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm về tín dụng NHTM Theo Nguyễn Minh Kiều (2007), “Tín dụng NH là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ NH cho KH trong một thời hạn nhất định với một khoản chi phí nhất định”. Thuật ngữ tín dụng “đó là sự tin tưởng, sự tín nhiệm một người về một vấn đề nào đó. Thuật ngữ tín dụng gắn liền với sản xuất và lưu thông hàng hóa (nói khác đi là gắn với hoạt động kinh tế của một quốc gia), ở đâu có sản xuất và lưu thông hàng hóa thì ở đó có tín dụng, và tín dụng luôn là động lực cho các hoạt động kinh tế”.
Tín dụng NH là việc NH thỏa thuận để KH sử dụng một tài sản (bằng tiền, tài sản thực hay uy tín) với nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu (tái chiết khấu), cho thuê tài chính, bảo lãnh NH và các nghiệp vụ khác. Theo Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 đã được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam thông qua thì “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bàng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh NH và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”. Cơ sở lý luận về RRTD NHTM 1. Khái niệm Theo Thomas p.
Fitch (1997), “RRTD là loại RR xảy ra khi người vay không thanh toán được nợ theo thỏa thuận hợp đồng dẫn đến sai hẹn trong nghĩa vụ trả nợ. Là RR chủ yếu trong HĐKD của NH”. G & cộng sự (2009): “RRTD được định nghĩa là nguy cơ mà người đi vay không thể chi trả tiền lãi, hoặc hoàn trả vốn gốc so với thời hạn đã ấn 9 định trong họp đồng tín dụng”. Điều này gây ra sự cố đối với dòng chu chuyển tiền tệ và gây ảnh hưởng tới khả năng thanh khoản của NH.
Theo Phan Thị Cúc và cộng sự (2009) thì “RRTD là RR phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của NH, biểu hiện thực tế qua việc KH không trả được nợ hoặc trả nợ không đúng hạn cho NH” Theo Jorion (2009), “RRTD là RR tổn thất kinh tế do bên đối tác không thể thực hiện đầy đủ nghĩa vụ được quy định trong họp đồng ký kết giữa các bên liên quan”. RR này được đo bằng chi phí phải bỏ ra để có được dòng tiền thay thế nếu bên đối tác phá sản. Theo thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 và các thông tư sửa đổi kèm theo về quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng RR và việc sử dụng dự phòng để xử lý RR trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh NH nước ngoài thì “RRTD là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động NH của tổ chức tín dụng do KH không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”. Từ các định nghĩa tác giả rút ra nội dung cơ bản về RRTD như sau: RRTD xảy ra khi người đi vay trễ hẹn hoặc tồi tệ hơn là không thanh toán ừong nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng, bao gồm vốn gốc và/hoặc lãi phát sinh.
RRTD dẫn đến tổn thất tài chính, tức là giảm thu nhập ròng và giảm giá trị thị trường của vốn. Trong trường hợp nghiêm trọng có thể dẫn đến phá sản. Các chỉ tiêu đo lường RRTD Theo Basel II khi đo lường RRTD đã đưa ra các chỉ tiêu sau. Nợ quá hạn và tỷ lệ nọ’ quá hạn trên tổng dư nợ: Bao gồm: - Nợ khó đòi và tỷ lệ nợ khó đòi trên tổng dư nợ, tỷ lệ nợ khó đòi ữên nợ quá hạn.
- Nợ quá hạn thông thường (có khả năng thu hồi cao). - Tốc độ tăng, giảm của các tỷ lệ trên: Tỷ lệ càng cao, tốc độ tăng cho thấy RR cao và có xu hướng tăng và ngược lại. Trong HĐTD việc quan trọng nhất sau khi giải ngân là làm sao thu hồi lại 10 khoản nợ (bao gồm cả gốc lẫn lãi) mà KH đã vay NH. Do đó vấn đề theo dõi, kiểm soát chặt chẽ các khoản nợ được các NH đặc biệt quan tâm nhằm tránh RRTD.
Vì vậy NHNN đã ban hành Thông tư 02/2013/TT-NHNN và các Thông tư sửa đổi kèm theo về quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng RR và việc sử dụng dự phòng để xử lý RR trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh NH nước ngoài. Trong đó đã phân loại nợ vay thành 5 nhóm có mức RR khác nhau nhằm giúp các NHTM dễ dàng kiểm soát, quản lý các khoản nợ phát sinh để thực hiện công tác thu hồi nợ một cách tốt nhất. • Nợ nhóm 1: Nợ đủ tiêu chuẩn là các khoản nợ còn trong hạn trả nợ và nợ quá thời hạn trả nợ dưới 10 ngày. • Nợ nhóm 2: Các khoản nợ quá hạn từ 10 ngày đến 90 ngày.
• Nợ nhóm 3: Các khoản nợ quá hạn từ 90 đến 180 ngày. • Nợ nhóm 4: Các khoản nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày. • Nợ nhóm 5: Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày. Vậy nợ xấu là các khoản nợ thuộc nhóm 3, 4, và 5.
Đây là chỉ tiêu phản ánh chất lượng tín dụng. Chỉ tiêu này càng cao thì càng RR trong việc thu hồi nguồn vốn cho vay của NH. Bởi vì nợ xấu là khoản nợ có khả năng mất vốn cao do năng lực ừả nợ của KH giảm sút nên trì trệ trong việc trả nợ vay cho NH. Nợ có vấn đề (có khả năng trở thành nợ quá hạn) Tỷ lệ càng cao, tốc độ tăng cho thấy RR cao và có xu hướng tăng và ngược lại.
Nhiều khoản cho vay tuy chưa xếp vào nợ quá hạn, xong NH nhận thấy RR đang gia tăng (có các dấu hiệu không tốt như doanh thu sụt giảm, chi phí gia tăng. Tình hình tài chính và phương án người vay, môi trường cho vay Nếu tình hình tài chính của người vay tốt, phương án có hiệu quả cao và môi trường hoạt động thuận lợi thì RRTD sẽ thấp. Những yếu tố này xấu đi sẽ cấu thành các khoản nợ có vấn đề. - x ế p hạng tín nhiệm KH vay: Đây là phương pháp đo lường RRTD hiện đại, đòi hỏi NH phải có phần mềm quản lý tập trung.
KH vay vốn sẽ được chấm điểm 11 dựa trên các yếu tố tài chính và phi tài chính (tình hình tài chính, năng lực sản xuất kinh doanh, hiệu quả dự án, mối quan hệ với NH và tính sòng phẳng.) sau đó được xếp hạng. Hạng càng cao (A) RR càng thấp và ngược lại. - Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ: Tỷ lệ này thể hiện tỷ trọng nợ xấu chiếm trên tổng dư nợ của NH tại một thời điểm. Tỷ lệ này càng cao thì tỷ lệ RRTD cho các khoản vay càng lớn và ngược lại.
Theo quy định thì tỷ lệ này đạt tối đa 2% thì an toàn cho NH. Những nguyên nhân phát sinh RRTD Theo Nguyễn Văn Tiến (2013), những nguyên nhân chính phát sinh RRTD trong NHTM như sau: 1. Nguyên nhân từ phía KH Một thực tế đáng buồn là có rất nhiều KH có phương án kinh doanh rất khả thi, lĩnh vực kinh doanh có rất nhiều thuận lợi, tuy nhiên khi bắt đầu có đủ các điều kiện về vốn để thực hiện phương án thì do năng lực quản lý, kinh nghiệm điều hành còn hạn chế, không đủ khả năng ứng phó trước những biến động thị trường dẫn đến họat động kinh doanh không đạt hiệu quả như kế họach đã đề ra. Sử dụng vốn vay sai mục đích: KH cố tình lập chứng từ rút vốn vay giả mạo mà do nhiều lí do NH không phát hiện được, để lấy vốn vay sử dụng khác với mục đích đã trình bày trong phương án vay vốn.
Sử dụng vốn vay sai mục đích trong nhiều trường hợp là do người vay sẵn sàng chấp nhận mạo hiểm với kỳ vọng sẽ mang lại lợi nhuận cao, tuy nhiên kết quả lại không như ý muốn. Nguyên nhân từ phía NH Chính sách và quy trình cho vay lỏng lẻo: Định hướng tín dụng chưa đạt được tầm chiến lược, chưa triệt để nguyên tắc của thị trường là lợi nhuận và mức RR có thể chấp nhận đươc, bị cuốn theo hội chứng kinh tế, theo phong trào, theo khẩu hiệu phát triển kinh tế, tìm mọi cách cạnh tranh, giành giật thị trường ở các ngành hàng, các nhóm KH mà không hề nhận thấy rằng NH mình không có sở trường trong lĩnh vực này hoặc chưa chuẩn bị đủ tiềm lực đối với ngành hàng này. Kỹ thuật cấp tín dụng nghèo nàn, chưa hiện đại và đa dạng như việc xác định hạn 12 mức tín dụng cho KH còn quá đơn giản, thời hạn chưa phù hợp. Công tác quản lý RRTD và kiểm sóat sau cho vay chưa được chú trọng, chỉ mang tính hình thức.
Thiếu thông tin: NH chưa xây dựng được hệ thống dữ liệu về KH một cách đầy đủ, chưa có các kênh kiểm tra chéo thông tin. Việc phân tích tín dụng và quyết định cho vay hầu như chỉ dựa trên các thông tin từ phía KH cung cấp, các mối quan hệ cá nhân. Chất lượng đội ngũ cán bộ liên quan đến công tác tín dụng chưa cao: Đội ngũ cán bộ thiếu trình độ chuyên môn, không đủ khả năng thẩm định phương án vay vốn của KH cũng như thiếu kinh nghiệm phát hiện các những điều bất thường trong phương án của KH và không đủ khả năng nhận biết tình hình kinh tế xã hội tác động như thế nào đến lĩnh vực kinh doanh của KH. Điều này dẫn đến việc đưa ra các quyết định cho vay không đúng.
Ngoài ra, có các cán bộ tín dụng đứng trước cám dỗ của đồng tiền, đã thông đồng với KH để chiếm đoạt tiền của ngân hàng I. Một số nguyên nhân khách quan khác Nguyên nhân từ hỏa hoạn, chiến tranh, dịch bệnh: Đây là những RR mà cả KH lẫn NH đều không lường trước đối với khoản tín dụng của mình, KH gặp khó khăn ảnh hưởng đến khả năng trả nợ vay NH. Đối với KH có tiềm lực tài chính mạnh thì cũng phải có thời gian để ổn định lại quá trình kinh doanh thì mới có khả năng trả nợ, còn với các KH có tiềm lực yếu thì khoản tín dụng có khả năng rất cao lâm vào tình trạng nợ xấu.