phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục các bảng, biểu đồ, sơ đồ và Danh mục tài liệu tham khảo, Luận án đƣợc chia thành 3 chƣơng: Chƣơng 1. Những vấn đề chung về QLRR tìn dụng ĐTPT của NHPT Chƣơng 2. Thực trạng QLRR tìn dụng ĐTPT tại NHPT Việt Nam Chƣơng 3. Giải pháp QLRR tìn dụng ĐTPT của NHPT Việt Nam.
8 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG ĐẦU TƢ PHÁT TRIỂN CỦA NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN 1. TÍN DỤNG ĐẦU TƢ PHÁT TRIỂN CỦA NHÀ NƢỚC VÀ RỦI RO TÍN DỤNG ĐẦU TƢ PHÁT TRIỂN CỦA NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN 1. Tín dụng đầu tƣ phát triển của Nhà nƣớc 1. Khái niệm tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước Tìn dụng, hiểu theo nghĩa thông thƣờng, là quan hệ sử dụng vốn lẫn nhau giữa các chủ thể kinh tế dựa vào sự tìn nhiệm trên nguyên tắc có hoàn trả.
Căn cứ vào chủ thể của hoạt động tìn dụng, ngƣời ta phân chia tìn dụng thành tìn dụng thƣơng mại, tìn dụng ngân hàng và tìn dụng Nhà nƣớc [18, tr. Theo cách phân loại này, tìn dụng ĐTPT của Nhà nƣớc là một bộ phận của tìn dụng Nhà nƣớc. Xét về chủ thể, một bên trong quan hệ tìn dụng ĐTPT của Nhà nƣớc bao giờ cũng là Nhà nƣớc. Xét về mục đìch, tìn dụng ĐTPT của Nhà nƣớc là để tài trợ hoạt động ĐTPT.
Đó là những điểm chung nhất có thể nhận ra về tìn dụng ĐTPT của Nhà nƣớc. Tuy nhiên, dƣới những góc độ khác nhau, ngƣời ta có quan niệm khác nhau về loại hính tìn dụng này. Tác giả Trần Công Hoà, trong Luận án tiến sỹ “Nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng ĐTPT của Nhà nước”, cho rằng tìn dụng ĐTPT của Nhà nƣớc là sự hỗ trợ của Nhà nƣớc thông qua các hính thức tìn dụng để tài trợ đầu tƣ các dự án phát triển thuộc lĩnh vực đƣợc Nhà nƣớc khuyến khìch; thông qua các quan hệ vay trả, hoạt động tìn dụng ĐTPT của Nhà nƣớc là một hính thức nhằm đáp ứng các nhu cầu vốn cho ĐTPT. Trong luận án nói trên, tác giả Trần Công Hoà cũng nhận định, ngoài nguồn vốn NSNN, Chình phủ các nƣớc thƣờng sử dụng tìn dụng ĐTPT của Nhà nƣớc nhƣ một công cụ nhằm tài trợ cho các dự án phát triển để đáp ứng các mục tiêu phát triển KT-XH trong từng thời kỳ.
[11] 9 Còn với góc nhín về chức năng của tìn dụng Nhà nƣớc trong việc bù đắp thiếu hụt của NSNN, tác giả Hoàng Văn Quỳnh, trong Luận án tiến sỹ “Hoàn thiện cơ chế tín dụng ĐTPT của Nhà nước trong sự nghiệp CNH-HĐH ở Việt Nam”, cho rằng tìn dụng đầu tƣ cơ bản Nhà nƣớc (hay tìn dụng ĐTPT của Nhà nƣớc) là công cụ cho vay đầu tƣ của Nhà nƣớc với lãi suất ƣu đãi theo kế hoạch, định hƣớng của Nhà nƣớc thông qua hệ thống tổ chức quản lý do Nhà nƣớc quyết định. Loại hính tìn dụng này là một dạng của tìn dụng Nhà nƣớc, có chức năng phân phối lại nguồn vốn qua đó nhằm thoả mãn nhu cầu đầu tƣ theo kế hoạch, định hƣớng của Nhà nƣớc. [53] Dù mỗi tác giả đều có quan điểm riêng, song nhín chung khái niệm về tìn dụng ĐTPT của Nhà nƣớc mà các tác giả đƣa ra đều phản ánh những điểm tƣơng đối đặc trƣng của nó. Tuy nhiên, theo quan điểm của chúng tôi, xét trên quan niệm về một khâu tài chình hay một quỹ tiền tệ, ngoài những điểm chung (về chủ thể và mục đìch) đã đƣợc nêu ở trên, khái niệm tìn dụng ĐTPT của Nhà nƣớc phải phản ánh đƣợc những điểm cơ bản sau đây: - Về nội dung kinh tế, tìn dụng ĐTPT của Nhà nƣớc là quan hệ phân phối giá trị của cải xã hội giữa Nhà nƣớc và các chủ thể trong xã hội trên nguyên tắc có hoàn trả trực tiếp.
- Về hính thức, tìn dụng ĐTPT của Nhà nƣớc là hoạt động tạo lập và sử dụng quỹ cho vay ĐTPT do Nhà nƣớc quản lý gắn với việc huy động vốn, cho vay, thu nợ. Với quan điểm đó, chúng tôi cho rằng: Tín dụng ĐTPT của Nhà nước (hay tín dụng ĐTPT Nhà nước) là quan hệ vay - trả giữa Nhà nước với các chủ thể trong xã hội, gắn liền với quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ tín dụng (quỹ cho vay) nhằm thực hiện các dự án ĐTPT trên nguyên tắc có hoàn trả trực tiếp. Hoạt động tìn dụng ĐTPT của Nhà nƣớc bao gồm hai mặt là (i) Nhà nƣớc vay vốn của các chủ thể trong xã hội để thực hiện các dự án ĐTPT thuộc nhiệm vụ của Nhà nƣớc nhƣng NSNN chƣa có đủ vốn và (ii) Nhà nƣớc cho các chủ thể trong xã hội vay vốn để thực hiện các dự án ĐTPT không thuộc nhiệm vụ chi của NSNN. 10 Trong phạm vi Luận án này, chúng tôi nghiên cứu mặt thứ hai của hoạt động tìn dụng ĐTPT Nhà nƣớc, tức là hoạt động cho vay.
Đặc điểm của tín dụng đầu tư phát triển Nhà nước Là một loại hính tìn dụng trong hệ thống tìn dụng của nền kinh tế quốc dân, tìn dụng ĐTPT của Nhà nƣớc cũng mang những đặc điểm vốn có của tìn dụng nói chung. Tuy nhiên, do đƣợc tổ chức thực hiện bởi Nhà nƣớc nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nƣớc, đồng thời lại hƣớng đến đối tƣợng phục vụ là hoạt động ĐTPT, nên tìn dụng ĐTPT Nhà nƣớc lại mang những đặc trƣng riêng, có sự đan xen giữa đặc điểm của tìn dụng và đặc điểm của NSNN. Những đặc trƣng đó có thể giúp phân biệt dễ dàng giữa tìn dụng ĐTPT Nhà nƣớc với các loại hính tìn dụng khác trong nền KTTT cũng nhƣ giữa tìn dụng ĐTPT với các loại hính tìn dụng khác của Nhà nƣớc. Thứ nhất, tính chủ thể nhà nước Trong tìn dụng ĐTPT của Nhà nƣớc, một bên chủ thể tham gia bao giờ cũng là Nhà nƣớc.
Nhà nƣớc có thể đóng vai trò là ngƣời đi vay hoặc là ngƣời cho vay, nhƣng trong mọi trƣờng hợp, Nhà nƣớc đều là ngƣời chủ động tổ chức thực hiện hoạt động tìn dụng cũng nhƣ điều chỉnh quan hệ tìn dụng. Nhà nƣớc thực hiện vai trò chủ thể của mính trong quan hệ tìn dụng ĐTPT thông qua các cơ quan có thẩm quyền đƣợc Nhà nƣớc thành lập để thực thi chình sách tìn dụng ĐTPT. Ở các quốc gia khác nhau, trong từng thời kỳ nhất định có thể có những cơ quan khác nhau đƣợc giao thực hiện chình sách tìn dụng ĐTPT Nhà nƣớc. Thứ hai, tính phi lợi nhuận Khác với mục đìch của các loại hính tìn dụng khác trong nền KTTT là tím kiếm lợi nhuận, mục đìch của tìn dụng ĐTPT Nhà nƣớc là hỗ trợ các dự án ĐTPT thuộc đối tƣợng đƣợc Nhà nƣớc khuyến khìch phát triển, do đó hoạt động tìn dụng ĐTPT Nhà nƣớc không đặt mục đìch lợi nhuận lên hàng đầu.
Việc thực thi chình sách tìn dụng ĐTPT Nhà nƣớc xuất phát từ yêu cầu thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nƣớc, và là một công cụ hỗ trợ đắc lực cho NSNN trong điều kiện 11 nguồn thu của ngân sách còn hạn hẹp. Thứ ba, tính ưu đãi Tìn dụng ĐTPT Nhà nƣớc hàm chứa sự ƣu đãi của Nhà nƣớc đối với các thành phần kinh tế. Sự ƣu đãi của Nhà nƣớc có thể đƣợc thể hiện trên phƣơng diện khối lƣợng, thời hạn, lãi suất cho vay và tài sản BĐTV. Cụ thể: - Về khối lƣợng: Các dự án ĐTPT thuộc đối tƣợng vay vốn tìn dụng ĐTPT có thể đƣợc Nhà nƣớc cho vay một số vốn rất lớn theo ý chì của Nhà nƣớc, ìt bị ràng buộc bởi các giới hạn về tỷ lệ an toàn nhƣ trong tìn dụng NHTM.
- Về thời hạn: Các dự án vay vốn tìn dụng ĐTPT của Nhà nƣớc có thể đƣợc vay vốn với thời hạn rất dài, có thể lên đến 10-15 năm hoặc dài hơn; thời kỳ ân hạn đối với các dự án vay vốn tìn dụng ĐTPT Nhà nƣớc cũng thƣờng dài hơn so với tìn dụng ngân hàng. Đặc điểm này của tìn dụng ĐTPT Nhà nƣớc xuất phát từ đặc trƣng của các dự án ĐTPT là có thời gian thực hiện và thu hồi vốn kéo dài; và cũng chình do đặc điểm này nên hoạt động cho vay ĐTPT của Nhà nƣớc có mức độ rủi ro cao. - Về lãi suất vay vốn: Nhín chung, lãi suất cho vay trong tìn dụng ĐTPT Nhà nƣớc thƣờng thấp hơn so với tìn dụng NHTM. Đặc điểm này xuất phát từ mục đìch phi lợi nhuận của tìn dụng ĐTPT Nhà nƣớc; hơn nữa còn là do Nhà nƣớc có thể huy động vốn của các chủ thể khác trong xã hội với lãi suất thấp nên có thể cho vay với lãi suất ƣu đãi.
- Về tài sản BĐTV: Các dự án vay vốn tìn dụng ĐTPT Nhà nƣớc thƣờng đƣợc sử dụng tài sản hính thành từ vốn vay để BĐTV, ngoài ra không phải sử dụng các tài sản khác để BĐTV hoặc chỉ phải BĐTV với một tỷ lệ rất nhỏ trên tổng số vốn vay. Thứ tư, tính kế hoạch - pháp lệnh Hoạt động tìn dụng ĐTPT của Nhà nƣớc mang tình kế hoạch - pháp lệnh rất cao. Kế hoạch tìn dụng ĐTPT hàng năm là một bộ phận của kế hoạch ĐTPT của Nhà nƣớc nhằm thực hiện những mục tiêu chiến lƣợc về phát triển KT-XH trong 12 từng thời kỳ, và đƣợc Nhà nƣớc thông báo hàng năm. Việc cho vay ĐTPT đối với các dự án đƣợc thực hiện theo kế hoạch hàng năm Nhà nƣớc giao; việc huy động vốn đƣợc thực hiện căn cứ trên nhu cầu giải ngân cho các dự án đã đăng ký kế hoạch; lãi suất huy động vốn và lãi suất cho vay ĐTPT cũng đƣợc Nhà nƣớc quyết định và thông báo trong từng thời kỳ.
Thứ năm, tính giới hạn về đối tượng và hình thức thực hiện Đối tƣợng vay vốn tìn dụng ĐTPT Nhà nƣớc thƣờng bị giới hạn trong phạm vi hẹp và có thể thay đổi qua các thời kỳ khác nhau tuỳ theo điều kiện thực tế của nền kinh tế, khả năng của Nhà nƣớc và mục tiêu phát triển KT-XH trong từng thời kỳ. Thông thƣờng, đối tƣợng vay vốn tìn dụng ĐTPT Nhà nƣớc chỉ là những ngành, những vùng, những thành phần kinh tế, hoặc thậm chì là loại hính doanh nghiệp. mà Nhà nƣớc khuyến khìch phát triển. Đối tƣợng mà Nhà nƣớc huy động vốn ĐTPT cũng giới hạn trong phạm vi hẹp, chỉ có một số loại hính chủ thể nhất định đƣợc Nhà nƣớc huy động vốn để thực hiện tìn dụng ĐTPT.