CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ RỦI RO TRONG CHO VAY ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP XÂY LẮP TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái quát về doanh nghiệp xây lắp và cho vay doanh nghiệp xây lắp của ngân hàng thương mại 1. Một số khái niệm Khái niệm doanh nghiệp xây lắp Theo Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13 ngày 26/11/2014, “doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh”. Doanh nghiệp xây lắp (DNXL) là các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế được thành lập theo quy định của pháp luật, có đăng ký ngành nghề kinh doanh trong lĩnh vực xây lắp.
DNXL thường được gọi là Nhà thầu. Để hiểu rõ hơn về DNXL, cần làm rõ khái niệm về lĩnh vực hoạt động xây lắp. Hoạt động “xây lắp” là thi công xây dựng công trình bao gồm xây dựng và lắp đặt thiết bị đối với các công trình xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo, di dời, tu bổ, phục hồi; phá dỡ công trình; bảo hành, bảo trì công trình. Trong đó: Công trình xây dựng là sản phẩm được tạo thành bởi sức lao động của con người, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình, được liên kết định vị với đất, có thể bao gồm phần dưới mặt đất, phần trên mặt đất, phần dưới mặt nước và phần trên mặt nước, được xây dựng theo thiết kế.
Công trình xây dựng bao gồm công trình xây dựng công cộng, nhà ở, công trình công nghiệp, giao thông, thuỷ lợi, năng lượng và các công trình khác. Thiết bị lắp đặt vào công trình bao gồm thiết bị công trình và thiết bị công nghệ. Thiết bị công trình là các thiết bị được lắp đặt vào công trình xây dựng theo thiết kế xây dựng. Thiết bị công nghệ là các thiết bị nằm trong dây chuyền công nghệ được lắp đặt vào công trình xây dựng theo thiết kế công nghệ.
Khái niệm cho vay và cho vay doanh nghiệp xây lắp Theo Luật các tổ chức tín dụng số 07/VBHN–VPQH ngày 12/12/2017 do Văn phòng Quốc Hội ban hành, “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác 9 định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”. Như vậy, cho vay DNXL là hình thức cấp tín dụng mà theo đó, bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho các DNXL một khoản tiền để sử dụng vào mục đích kinh doanh trong một thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Đặc điểm của doanh nghiệp xây lắp và cho vay doanh nghiệp xây lắp 1. Đặc điểm của doanh nghiệp xây lắp Lĩnh vực xây lắp có những đặc điểm kinh tế - kỹ thuật riêng biệt, thể hiện qua sản phẩm xây lắp và quá trình tạo ra sản phẩm xây lắp, những đặc điểm này sẽ chi phối công tác tổ chức quản lý của doanh nghiệp.
Việc nghiên cứu các đặc điểm này, giúp Ngân hàng nắm rõ những hạn chế và đề ra những phương án khắc phục nhằm tăng cường quản lý rủi ro trong cho vay doanh nghiệp xây lắp. Về sản phẩm xây lắp Sản phẩm xây lắp có quy mô lớn, kết cấu phức tạp, mang tính đơn chiếc Mỗi sản phẩm đều có thiết kế riêng theo yêu cầu của nhiệm vụ thiết kế, mặc dù sản phẩm xây lắp có thể giống nhau về hình thức song về kết cấu, quy phạm thì không giống nhau hoàn toàn nếu xây dựng ở những địa điểm khác nhau, nên mặc dù có thể sản xuất hàng loạt theo mẫu thiết kế thống nhất nhưng chi phí xây dựng không thống nhất. Bên cạnh đó, với đặc điểm quy mô (thể tích) lớn và phức tạp của sản phẩm xây lắp dẫn đến chu kỳ sản xuất dài, vốn đầu tư bỏ vào để xây dựng dễ bị ứ đọng, gây lãng phí, hoặc ngược lại nếu thiếu vốn sẽ làm công tác thi công bị gián đoạn, kéo dài thời gian xây dựng. Do đó, từ đặc điểm này, yêu cầu công tác quản lý tài chính phải có kế hoạch, tiến độ thi công, dự toán cụ thể cho từng công trình, từng hạng mục công trình và dự toán chi tiết theo thiết kế tổ chức thi công, có biện pháp kỹ thuật thi công tốt để rút ngắn thời gian xây dựng, tiết kiệm vật tư, lao động, tiết kiệm chi phí quản lý để hạ giá thành xây dựng.
Sản phẩm xây lắp có tính chất cố định, nơi sản xuất gắn liền với nơi tiêu thụ sản phẩm Các tư liệu sản xuất (các máy móc, thiết bị thi công, công nhân,.) phải di chuyển theo địa điểm đặt sản phẩm. Đặc điểm này làm khó khăn cho công tác tổ chức sản xuất. Việc bố trí các công trình tạm phục vụ thi công (lán trại, kho tàng…) phối hợp 10 với các phương tiện, máy móc thiết bị nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp và tốn kém. Do đó, để giảm thiểu lãng phí, thất thoát trên đòi hỏi trước khi khởi công xây dựng công trình phải làm thật tốt công tác chuẩn bị đầu tư và chuẩn bị xây dựng; hiệu quả kinh doanh sẽ phụ thuộc rất lớn vào trình độ tổ chức quản lý của đơn vị xây lắp.
Sản phẩm xây lắp chịu ảnh hưởng của điều kiện thiên nhiên, khí hậu, địa chất, thuỷ văn. Chất lượng và giá cả (chi phí xây dựng) sản phẩm xây lắp phụ thuộc trực tiếp của các điều kiện tự nhiên. Các doanh nghiệp xây lắp không thể lường trước được hết những khó khăn do tác động của thời tiết, khí hậu. Rủi ro xảy ra tác động tới tiến độ thi công công trình, giá thành công trình, thậm chí cả chất lượng công trình.
Do đó, các doanh nghiệp xây lắp phải lập tiến độ thi công, tổ chức thi công hợp lý, có phương án sử dụng cũng như bảo quản nguyên, nhiên vật liệu để tránh bị tác động xấu của các điều kiện tự nhiên và quản lý hiệu quả chi phí. Sản phẩm xây lắp được tiêu thụ theo giá dự toán hoặc giá thỏa thuận với chủ đầu tư (giá đấu thầu) Do đó tính chất hàng hóa của sản phẩm xây lắp không thể hiện rõ. Đối tượng hạch toán chi phí cụ thể trong xây lắp là các hạng mục công trình, các giai đoạn của hạng mục hay nhóm hạng mục. Do đó, doanh nghiệp xây lắp phải lập dự toán chi phí và tính giá thành theo từng hạng mục công trình hay giai đoạn của hạng mục công trình.
Sản phẩm xây lắp liên quan đến nhiều ngành khác nhau trong quá trình xây dựng và sử dụng Tài sản cố định của các ngành khác nhau là sản phẩm của ngành xây lắp. Do vậy, chất lượng sản phẩm xây lắp liên quan đến chất lượng đầu tư của các ngành và hiệu quả đầu tư trong nền kinh tế. Về tổ chức quản lý và sản xuất kinh doanh Hoạt động kinh doanh của DNXL là hoạt động mang tính đặc thù, sản phẩm của họ là những công trình xây dựng (từ công trình xây dựng công nghiệp đến dân dụng, cầu đường, cơ sở hạ tầng, xây lắp điện…), các DNXL chỉ sản xuất những sản phẩm mà chủ đầu tư đặt hàng và được tiêu thụ khi chủ đầu tư chấp thuận theo các điều kiện đã ký kết. Hoạt động sản xuất kinh doanh của DNXL phần nào phụ thuộc vào khả năng phát triển, đầu tư và mở rộng của nền kinh tế, nếu đầu tư của nền kinh tế tăng 11 trưởng cao thì thị trường tiêu thụ của DNXL có khả năng được mở rộng.
Trên cơ sở đó, hoạt động cho vay của Ngân hàng đối với khách hàng là các DNXL để tham gia thi công các công trình phục vụ cho nhu cầu phát triển của nền kinh tế cũng có khả năng mở rộng. Kết quả sản xuất kinh doanh của DNXL được thực hiện khi các công trình xây lắp (sản phẩm xây lắp) được chủ đầu tư chấp thuận và thanh toán, và chỉ khi đó DNXL mới có khả năng trả nợ ngân hàng. Vì vậy, quan hệ tín dụng giữa DNXL và Ngân hàng, hay nói cách khác chất lượng cho vay đối với DNXL sẽ phụ thuộc lớn vào mối quan hệ giữa chủ đầu tư (bên A) và DNXL (bên B), mối quan hệ này thể hiện ở: Chất lượng thực hiện công trình, phương thức nghiệm thu thanh toán của chủ đầu tư, tiến độ xây dựng, nguồn vốn xây dựng cơ bản của chủ đầu tư… c. Về tình hình tài chính của doanh nghiệp xây lắp Nhu cầu vốn lưu động thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nhu cầu vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các DNXL Do tính chất hoạt động của DNXL nên cơ cấu vốn có đặc thù riêng khác với ngành công nghiệp và các ngành khác, cụ thể là nhu cầu vốn lưu động (vốn kinh doanh doanh ngắn hạn) cho hoạt động SXKD chiếm tỷ trọng lớn nhất.
Các ngân hàng thường cho vay các DNXL chủ yếu để tài trợ vốn lưu động phục vụ thi công các công trình. Đối với nhu cầu đầu tư mới, thay thế và cải tiến máy móc thiết bị, nâng cao năng lực sản xuất, ngân hàng chỉ tham gia tài trợ một phần, phần còn lại các DNXL phải bỏ vốn tự có của mình. Tốc độ chu chuyển vốn trong các DNXL thường không cao Do đặc điểm xây dựng một đơn vị sản phẩm đòi hỏi phải bỏ nhiều chi phí, thời gian thi công kéo dài dẫn đến tình trạng ứ đọng vốn sản xuất ở các hạng mục công trình thi công dở dang. Khi công trình hoàn thành, công tác nghiệm thu, quyết toán và thanh toán còn phải phụ thuộc vào chủ đầu tư.
Các DNXL thường xuyên bị chiếm dụng vốn trong thời gian dài nên tốc độ quay vòng vốn lưu động thường rất thấp, nhu cầu vốn lưu động cần thiết cho thi công lớn. Trong khi đó vốn chủ hữu chiếm tỷ lệ nhỏ trên tổng nguồn vốn nên để đủ vốn hoạt động, các DNXL phải huy động vốn bên ngoài mà chủ yếu là vốn vay ngân hàng. Khả năng tự chủ về tài chính thấp 12 Thực tế hiện nay, vốn chủ sở hữu của DNXL thường chỉ chiếm khoảng 5-20% trong tổng nguồn vốn, còn lại là vốn vay ngân hàng và vốn chiếm dụng khác. Do đó gánh nặng về chi phí lãi vay lớn gây áp lực đến hiệu quả kinh doanh và tình hình tài chính của doanh nghiệp.
Lợi nhuận đạt được không cao nên khả năng bổ sung vốn chủ sở hữu và đầu tư nâng cao năng lực sản xuất thi công thường hạn chế.