CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ PHƯƠNG TIỆN GIÁO DỤC Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Dựa trên cơ sở phát triển mạnh mẽ như vũ bão về khoa học công nghệ, thế giới đã chuyển sang nền kinh tế tri thức với toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế là một xu thế khách quan. Trong nền kinh tế này con người với tri thức đỉnh cao là nguồn lực quan trọng nhất.
Để có nguồn lực này giáo dục giữ vai trò vô cùng quan trọng. Nói đến giáo dục phải nói đến quá trình giáo dục và dạy học. Quá trình này được cấu thành bởi nhiều thành tố có liên quan chặt chẽ và tương tác với nhau. Các thành tố đó bao gồm: mục tiêu, nội dung, phương pháp, giáo viên, học sinh và phương tiện (CSVC - PTGD).
Các yếu tố cơ bản này giúp thực hiện quá trình giáo dục và dạy học. Phương tiện (CSVC - PTGD) là một thành tố không thể tách rời được. Cơ sở vật chất - thiết bị dạy học có mặt trong quá trình nêu trên có vai trò và vị trí như các thành tố khác và không thể thiếu một thành tố nào. Như vậy, CSVC - PTGD là một bộ phận, một thành tố không thể thiếu được trong quá trình giáo dục và dạy học.
Nó giúp cụ thể hóa phần nào những tư duy trừu tượng, giúp thể hiện phương pháp dạy học bằng trực quan sinh động. Hiện nay các nước trên thế giới đều có khuynh hướng hoàn thiện trang thiết bị và phương tiện dạy học nhằm hiện đại hóa nội dung, phương pháp và hình thức dạy học. Tùy theo hoàn cảnh kinh tế, kỹ thuật và xã hội, mỗi nước có một hướng nghiên cứu và phát triển thiết bị và phương tiện dạy học trường học riêng. Qua tìm hiểu cho thấy các nước có nền kinh tế phát triển đều quan tâm và đầu tư thỏa đáng cho thiết bị và phương tiện dạy học nói chung, thiết bị và phương tiện dạy học của Trường nghiệp vụ/ Trường nghề nói riêng từ diện tích khuôn viên của Nhà trường đến phòng học, phòng thực hành, xưởng, máy móc, xe cộ để đáp ứng cho nhu cầu giáo dục.
Ở Nga, Hà Lan người ta chú ý đến việc trang bị những phương tiện, cơ sở vật chất cho các hoạt động dạy học để nâng cao chất lượng. Ở Đức, Ba Lan, Pháp, Nhật, Hàn Quốc, Singapore, … là những 7 nước đầu tư rất nhiều cho việc trang bị thiết bị và phương tiện dạy học đầy đủ và hiện đại, nhất là các phương tiện chuyên dụng cho công tác đào tạo thực hành. Ở Mỹ, có giai đoạn phổ biến là dùng máy thay cho giáo viên giảng dạy, nên việc nghiên cứu và trang bị các phương tiện hiện đại rất quan trọng Nói đến giáo dục phải nói đến quá trình giáo dục và dạy học. Quá trình này được cấu thành bởi nhiều thành tố có liên quan chặt chẽ và tương tác với nhau.
Các thành tố đó là: mục tiêu, nội dung, phương pháp, giáo viên, học sinh và phương tiện (cơ sở vật chất - thiết bị dạy học). Các yếu tố cơ bản này giúp thực hiện quá trình giáo dục và dạy học. Mối quan hệ giữa các thành tố cấu thành quá trình giáo dục và dạy học, trong đó: Cơ sở vật chất là một thành tố không thể tách rời được. Cơ sở vật chất - thiết bị dạy học có mặt trong quá trình nêu trên có vai trò và vị trí như các thành tố khác và không thể thiếu một thành tố nào.
Nó giúp cụ thể hóa phần nào những tư duy từu tượng, giúp thể hiện phương pháp dạy học bằng trực quan sinh động. Vấn đề này, Lênin đã diễn tả một cách khái quát như sau: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn, đó là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý, của sự nhận thức thực tại khách quan”. Từ nhận thức luận của Lênin, những nhà khoa học đã tổng kết được mức độ ảnh hưởng của các giác quan trong quá trình truyền thông dạy học đối với việc tiếp thu tri thức sẽ đạt được các kết quả sau: 1% qua nếm, 1,5% qua sờ, 3,5% qua ngửi, 11% qua nghe; 83% qua nhìn. Nhà giáo dục Slovakia-J.Cômenxki (1592-1670) cho rằng khởi điểm của nhận thức bao giờ cũng xuất phát từ cảm giác và kiến thức càng dựa nhiều vào cảm giác thì nó càng xác thực.
Tính trực quan tạo ra khả năng làm cho nhà trường trở nên sinh động, nó dạy cho học sinh hiểu và nghiên cứu thực tế một cách độc lập. Cùng quan điểm trên, nhà giáo dục học J. Vào những thập niên cuối của thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21, khi mạng máy tính ra đời và công nghệ thông tin phát triển, các nhà nghiên cứu tập trung phương tiện dạy học hiện đại gắn liền với công nghệ thông tin thay vì các phương tiện dạy học truyền thống như bảng, giấy, đồ dùng thủ công … trước 8 đây. UNESCO đặc biệt quan tâm đến việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học và thúc đẩy sự phát triển phương tiện công nghệ thông tin trong hệ thống trường học trên toàn thế giới.
Dưới góc độ hỗ trợ hoạt động dạy - học, công nghệ thông tin được xem là phương tiện dạy học hiệu quả. Các nước trên thế giới tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục đào tạo. Trong những năm gần đây có một số nghiên cứu có đề cập đến cơ sở vật chất - thiết bị dạy học trường học: Tổ chức lao động quốc tế ADB/ILO [1] đưa ra 9 tiêu chuẩn và điểm đánh giá cơ sở giáo dục - đào tạo để kiểm định các nước thuộc tiểu vùng sông Mêkông. Tuy nhiên, cũng cần nhận thức một các sâu sắc rằng cơ sở vật chất - thiết bị dạy học có tầm quan trọng và khả năng to lớn đối với sự nghiệp phát triển giáo dục, nhưng hiệu quả của chúng trong phạm vi đáng kể còn phụ thuộc vào trình độ vào việc đào tạo nghề nghiệp của giáo viên.
Các nghiên cứu ở trong nước Phương tiện dạy học được xem như một trong những điều kiện quan trọng để thực hiện nhiệm vụ dạy - học và nghiên cứu khoa học. Nghị quyết Ban chấp hành Trung ương Đảng CSVN lần 2 - Khóa VIII đã đề cập và khẳng định tầm quan trọng của cơ sở vật chất - kỹ thuật các trường học như sau: "Nâng cao chất lượng giáo dục, phấn đấu sớm có một số trường học đạt tiêu chuẩn quốc tế trên cơ sở xây dựng đội ngũ giáo viên mạnh, tiêu chuẩn hóa và hiện đại hoá các điều kiện dạy và học. Tiếp tục đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục đào tạo, tăng cường cơ sở vật chất - kỹ thuật các trường học "[10]. Ở giải pháp tăng cường cơ sở vật chất - kỹ thuật, Nghị quyết đã đề ra: “Xóa ca ba; quy hoạch đất đai cho các trường; ban hành chuẩn quốc gia về các cơ sở vật chất - kỹ thuật của các trường học, bao gồm: lớp học, bàn ghế, tủ sách, đồ dùng dạy học, trang thiết bị thí nghiệm, thực hành tối thiểu…” Văn kiện Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX của Đảng về giáo dục và đào tạo tiếp tục khẳng định: “Tăng cường cơ sở vật chất và từng bước hiện đại hóa nhà trường (lớp học, sân chơi, bãi tập, phòng thí nghiệm, máy tính nối mạng Internet, thiết bị giảng dạy và học tập hiện đại, thư viện và ký túc xá)” [12].
Trong nhiều năm qua, đã có nhiều tài liệu, sách, đề tài nghiên cứu khoa học đề cập đến quản lý cơ sở vật chất và thiết bị dạy học ở các cấp học, tiêu biểu tác giả Trần Quốc Đắc (1999) về vấn đề Nâng cao hiệu quả sử dụng thiết bị dạy học ở trường phổ thông [9]. 9 Về quản lý cơ sở vật chất và thiết bị dạy học trường học, trong thời gian qua cũng đã có một số luận văn thạc sĩ. Các nghiên cứu này đã đề xuất được các biện pháp cụ thể về quản lý CSVC và PTGD trong nhà trường nhằm nâng cao chất lượng dạy học nói riêng và chất lượng giáo dục nói chung. Các đề tài luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục, cụ thể như một số đề tài nghiên cứu: - “Các biện pháp quản lý cơ sở vật chất –TBDH ở các Trung tâm kỹ thuật tổng hợp hướng nghiệp trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế” (Phan Văn Ngọc- 2007); - “Biện pháp quản lý TBDH của Hiệu trưởng các Trường Trung học phổ thông trên địa bàn Huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình” (Hà Văn Trung-2009); - “Một số giải pháp quản lý CSVC và TBDH nhằm nâng cao chất lượng đào tạo tại Trường Đại học Sài Gòn” (Nguyễn Thị Hoài Lê-2013),… Tóm lại, các đề tài nghiên cứu trên đã xác lập được cơ sở lý luận, tổng kết các kinh nghiệm quản lý, đề xuất các biện pháp quản lý CSVC, PTGD.
Tuy nhiên, tùy theo đặc điểm, mục tiêu, chức năng, nhiệm vụ của mỗi nhà trường mà có các biện pháp quản lý CSVC và PTGD khác nhau và có tính chất đặc thù, phù hợp với đặc điểm của mỗi loại hình nhà trường. Cho đến nay, vấn đề quản lý phương tiện giáo dục ở các trường mầm non huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau chưa có ai nghiên cứu một cách đầy đủ và có hệ thống. Các khái niệm chính của đề tài 1. Quản lý Có nhiều quan niệm về quản lý theo các khía cạnh khác nhau, tiêu biểu: Theo từ điển Tiếng Việt "Quản lý là tổ chức, điều khiển hoạt động của một đơn vị, cơ quan", theo từ điển Tiếng Việt [29, tr.
Theo Trần Kiểm (2008), “Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực và tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất”, theo Trần Kiểm [17, tr. Theo Nguyễn Ngọc Quang (1998), “Quản lý là những tác động có định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng bị quản lý trong tổ chức để vận hành tổ chức, nhằm đạt mục đích nhất định”, theo tác giả Nguyễn Ngọc 10 Quang [21, tr. Theo Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc “Quản lý là sự tác động có chủ đích của chủ thể QL đến đối tượng QL nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức [17, tr.