PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lí do thực hiện đề tài Ngày nay, nhân loại đang bước vào cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 với những “cơ may và hi vọng” song cũng đầy những thách thức và lo âu. Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế trở thành xu thế tất yếu. Sự phát triển về kinh tế, khoa học – kĩ thuật và công nghệ … đã đạt những thành tựu nhất định; bên cạnh đó nền giáo dục thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng hiện nay đang có nhiều thay đổi với xu hướng nhanh hơn và mạnh mẽ hơn.
Xu thế mới đặc trưng cho vài thập kỉ đầu của thế kỉ 21: sự toàn cầu hóa, công nghệ cao, đặc biệt công nghệ thông tin, kinh tế tri thức, xã hội thông tin, xã hội học tập…đang đặt ra những vận hội và thách thức mới cho ngành Giáo dục. Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương đã nêu: đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là đổi mới những vấn đề lớn, cốt lõi, cấp thiết, từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện bảo đảm thực hiện; đổi mới từ sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lí của Nhà nước đến hoạt động quản trị của các cơ sở giáo dục - đào tạo và việc tham gia của gia đình, cộng đồng, xã hội và bản thân người học; đổi mới ở tất cả các bậc học, ngành học (Ban Chấp hành Trung ương, 2013). Giáo dục mầm non (GDMN) là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, được xác định có vai trò quan trọng trong việc đặt nền móng cho sự phát triển toàn diện của trẻ. Tônxtôi từng nhận định “Tất cả những gì đứa trẻ có sau này đều thu nhận được từ thời thơ ấu.
Trong quãng đời còn lại những cái mà nó thu nhận được chỉ đáng một phần trăm những cái đó mà thôi”. Ông đã đặt một phép so sánh “Nếu đứa trẻ từ năm tuổi đến người lớn chỉ là một bước thì từ đứa trẻ sơ sinh đến năm tuổi là một khoảng dài kinh khủng” (Nguyễn Ánh Tuyết và cộng sự, 2005). Điều này cho thấy lứa tuổi mầm non (MN) là giai đoạn vàng của sự phát triển. Vì vậy, nhà trường, gia đình và xã hội cần có sự quan tâm đặc biệt đối với trẻ MN, đảm bảo cho các em có sự phát triển bền vững về thể chất và tinh thần.
1 Thời gian gần đây, bạo lực học đường (BLHĐ) đã khiến cho dư luận cả nước hết sức lo ngại. Bạo lực xảy ra ở các cấp học tại các địa phương trên cả nước, trên nhiều đối tượng và sự việc diễn ra ở phạm vi cả bên trong và bên ngoài nhà trường. Trên các phương tiện thông tin đại chúng, các trang mạng xã hội xuất hiện ngày càng nhiều vụ việc liên quan đến bạo lực, đặc biệt là BLHĐ đối với trẻ MN. Hiện tượng bạo hành trẻ em trong trường MN đang có xu hướng gia tăng cả về số lượng lẫn tính chất nghiêm trọng.
Ở lứa tuổi MN trẻ chưa có nhận thức rõ về hành vi, lời nói và hoạt động của mình; trẻ dễ bị tổn thương (về thể chất và tinh thần) và hậu quả để lại trên trẻ là không hề nhỏ, có thể ảnh hưởng lâu dài đến sự phát triển và tương lai của trẻ. Một số công trình nghiên cứu, khảo sát cho thấy BLHĐ có thể gây ra những hậu quả lâu dài, dai dẳng đối với trẻ khi các em bước vào giai đoạn trưởng thành và còn tiếp tục để lại hệ lụy trong cuộc đời sau này của trẻ. Khi bị bạo hành dù ở bất kì hình thức nào, đứa trẻ đều phải chịu những tổn thương ở các mức độ khác nhau, trong đó có những hậu quả dai dẳng, ảnh hưởng nặng nề tới cuộc sống của trẻ. Ở nước ta, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 80/2017/NĐ-CP ngày 17 tháng 7 năm 2017 qui định về môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh, thân thiện, phòng, chống BLHĐ.
Nghị định được áp dụng đối với các cơ sở giáo dục từ MN đến giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên, giáo dục nghề nghiệp, các lớp độc lập dạy văn hóa, năng khiếu… có người học dưới 18 tuổi (Chính phủ, 2017). Chương trình hành động phòng, chống BLHĐ trong các cơ sở GDMN, giáo dục phổ thông và giáo dục thường xuyên giai đoạn 2017-2021 ban hành kèm theo Quyết định số 5886/QĐ-BGDĐT ngày 28 tháng 12 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) đã xác định mục tiêu tổng quát: “đảm bảo môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh, thân thiện; chủ động phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và kịp thời xử lí các hành vi vi phạm nhằm giảm thiểu BLHĐ” (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2017a). Bộ GD&ĐT cũng đã ban hành các văn bản chỉ đạo liên quan đến công tác phòng, chống BLHĐ như: Chỉ thị số 993/CT-BGDĐT ngày 12 tháng 4 năm 2019 2 về việc tăng cường giải pháp phòng, chống BLHĐ trong cơ sở giáo dục, Kế hoạch số 588/KH-BGDĐT ngày 10 tháng 7 năm 2019 về phòng, chống BLHĐ trong các cơ sở GDMN, giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên năm 2019. Trong những năm học qua, BLHĐ đối với trẻ em lứa tuổi MN diễn ra ngày càng nhiều và phức tạp, từ các nhóm, lớp độc lập tư thục đến các trường MN (cả trường công lập và ngoài công lập), trẻ có thể bị giáo viên (GV) hoặc những người chăm sóc trẻ bạo hành trong mọi hoạt động sinh hoạt hàng ngày như: giờ học, giờ chơi, giờ ăn, giờ ngủ, kể cả giờ vệ sinh, làm dấy lên sự quan tâm, e ngại của cha mẹ trẻ khi gửi con em đến trường.
Cùng với quyết tâm phòng, chống BLHĐ của ngành Giáo dục trên cả nước, Giáo dục tỉnh Bình Phước thực hiện nghiêm sự chỉ đạo của Chính phủ, Bộ GD&ĐT cũng như sự chỉ đạo trực tiếp của Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh Bình Phước nên trên địa bàn tỉnh không xảy ra những vụ việc đáng tiếc nào về BLHĐ. Tuy nhiên, vừa qua trên các trang mạng xã hội và báo, đài đã phản ánh trường hợp bạo hành trẻ như tại trường MN tư thục Mai Vàng, huyện Chơn Thành. Sự việc diễn ra khi trẻ hiếu động, có hành vi quấy phá các bạn cùng lớp nên GV trừng phạt trẻ bằng cách dùng vật nhọn đâm vào lòng bàn tay của trẻ (Công văn số 01/BC-TTrKĐCLGD, ngày 14/11/2019 về việc xác minh thông tin báo chí đưa tin về trường MN tư thục Mai Vàng, huyện Chơn Thành). Khi bị người thân của trẻ tố, UBND huyện Chơn Thành đã chỉ đạo các cơ quan chức năng vào cuộc điều tra, làm rõ sự việc; qua đó, phát hiện và buộc cơ sở dừng hoạt động vì chưa được cấp phép.
Qua sự việc trên cho thấy hành vi bạo lực không chỉ xuất phát từ một phía: người lớn (giáo viên) tác động lên trẻ mà có thể xuất phát từ trẻ. Khi trẻ tiếp xúc, giao tiếp với bạn bè, với cô giáo, trẻ có thể có những biểu hiện, hành vi bạo lực tác động đến thể chất và tinh thần của những người xung quanh trẻ. Đây là hồi chuông cảnh báo về nguy cơ tiềm ẩn BLHĐ đối với trẻ ở trường MN trên địa bàn tỉnh Bình Phước nói chung và đặc biệt là khu vực thành phố (TP) Đồng Xoài nói riêng – nơi tập trung đông dân cư và có số lượng trường MN, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập nhiều nhất trong các huyện, thị xã của tỉnh. 3 Qua đó cho thấy phòng chống BLHĐ là việc làm có tính cấp bách và có ý nghĩa thực tiễn.
Thực hiện hiệu quả công tác quản lí hoạt động phòng chống BLHĐ ở trường MN sẽ mang lại những lợi ích lớn như: tạo văn hóa bài trừ bạo lực, tạo môi trường GD an toàn, lành mạnh giúp trẻ phát triển hài hòa về thể chất, tâm sinh lí, hình thành nhân cách ở trẻ, không còn xảy ra tổn thương do bạo lực đối với trẻ và tạo dựng niềm tin, sự yên tâm cho các bậc cha mẹ và cộng đồng xã hội đối với ngành GD. Với những lí do trên, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài “Quản lí hoạt động phòng chống bạo lực học đường cho trẻ em ở các trường mầm non công lập thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước”. Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở hệ thống hóa cơ sở lí luận về quản lí hoạt động phòng chống BLHĐ, đề tài khảo sát, đánh giá thực trạng quản lí hoạt động phòng chống BLHĐ cho trẻ em ở các trường MN công lập tại TP Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước. Từ đó, đề xuất biện pháp quản lí hoạt động phòng chống BLHĐ cho trẻ em ở các trường MN công lập ở địa phương trong giai đoạn hiện nay.
Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3. Khách thể nghiên cứu: Quản lí hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc, GD trẻ ở trường MN. Đối tượng nghiên cứu: Quản lí hoạt động phòng chống BLHĐ cho trẻ em ở các trường MN công lập tại TP Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước. Nhiệm vụ nghiên cứu 4.
Hệ thống hóa cơ sở lí luận về BLHĐ, quản lí hoạt động phòng chống BLHĐ ở trường MN. Khảo sát và đánh giá thực trạng quản lí hoạt động phòng chống BLHĐ cho trẻ em ở một số trường MN công lập tại TP Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước. Đề xuất các biện pháp quản lí hoạt động phòng chống BLHĐ cho trẻ em ở các trường mầm non công lập tại TP Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước. Giả thuyết khoa học 4 Quản lí hoạt động phòng chống BLHĐ cho trẻ em tại các trường MN công lập tại TP Đồng Xoài đã được quan tâm, chỉ đạo; tuy nhiên vẫn còn những hạn chế, bất cập trong lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra.
Nếu khảo sát, đánh giá đúng thực trạng và xác định được nguyên nhân thực trạng quản lí hoạt động phòng chống BLHĐ cho trẻ em ở trường MN tại địa phương thì có thể đề xuất các biện pháp quản lí hoạt động phòng chống BLHĐ có tính cần thiết và khả thi cao, góp phần xây dựng môi trường GD an toàn, lành mạnh, thân thiện tại các trường MN trên địa bàn TP Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước. Phạm vi nghiên cứu 6. Phạm vi về nội dung Đề tài khảo sát và đánh giá thực trạng quản lí hoạt động phòng chống BLHĐ cho trẻ em ở một số trường MN công lập tại TP Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước dưới sự điều hành của hiệu trưởng nhà trường. Phạm vi về địa bàn, đối tượng Nghiên cứu thực hiện tại 6/10 trường MN công lập trên địa bàn TP Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước.