CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VE QUAN LÝ VIỆC PHÓI HỢP GIÁO DỤC GIỮA NHÀ TRUONG VÀ GIA ĐÌNH 1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề Lý luận khoa học giáo dục hiện đại đã chỉ ra rằng yếu tổ môi trường hoàn cảnh và yếu tô giáo dục có ý nghĩa quan trọng đôi với quá trình phát trién nhân cách của mỗi con người. Vì vậy trong lý luận sư phạm học, nhiễu nhà giáo dục đã quan tâm nghiên cứu mỗi quan hệ giữa nhà truéng và gia đình nói chung, giữa cha mẹ và thầy cô giáo nói riêng vì trong thực tế giáo dục nó có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả giáo dục học sinh. Nhà giáo dục, người có công lớn trong nên giáo dục cận đại J.A Comenxki khẳng định: " Lòng ham học ở các em cần được kích thích từ bé mẹ, nha truờng, bản thân môn học, phương pháp dạy học phải thống nhất làm thức tính và duy trì khát vọng học tập trong học sinh.” Nhiều nhà giáo dục của Liên Xô đã nhắn mạnh đến tam quan trong cúa sự phối hợp, hợp tác giữa nhà trường và gia đình trong việc thực hiện mục đích giáo dục của những người công dân chân chính trong tương lai đối với nhà nước xã hội chủ nghĩa. Sự hợp tác thống nhất giữa cha mẹ và thầy cô giáo không những nhằm mục đích định hướng mà còn là động lực giúp cho trẻ có niềm tin vững chắc trong quá trình học tập và rèn luyện.Xukhomlinxki (1918-1970) đã khẳng định nếu gia đình và nhà trường không có sự hợp tác dé thống nhất mục đích, nội dung giáo dục thì sẽ dẫn đến ting trạng ” gia đình một đường, nhà trường một nẻo”.
Trong quá trình phát triển hệ thống lý luận giáo dục Việt Nam nhiều nhà nghiên cứu đã quan tâm đến việc xây dựng mỗi quan hệ, sự hợp tác giữa gia định, nhà trường xã hội trên cơ sở tư tưởng chỉ đạo của Dang, Nha nước về nội dung, cách thức va phương pháp giáo dục nhằm ngày càng hoàn thiện ly luận về giáo dục gia đình phù hợp với sự phát triển của khoa học hiện nay. Điều 64 Hiến pháp nước Cộng hoả Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã viết: "Cha mẹ có trách nhiệm nuôi dạy thành những công dan tốt. Con cháu có bổn phậh kính trọng và chăm sóc ông bà, cha mẹ". Do vậy giáo dục là trách nhiệm pháp lý của những bậc làm cha, làm mẹ.
Chương IV của Luật Giáo dục năm 2005 quy định sự phối hợp giữa ba môi trường giáo dục nhà trường, gia đình và xã hội. Điều 94 quy định trách nhiệm của gia đình: " Cha mẹ hoặc người giám hộ có trách nhiệm nuôi dưỡng. giáo dục và chăm sóc, tạo điều kiện cho con em hoặc người được giám hộ được học tap, rèn luyện, tham gia các hoạt động của nha trường. Mọi người trong gia đình có trách nhiệm xây dựng gia đình văn hoá, tạo môi trường thuận lợi cho việc phát triển toàn diện đạo đức, trí tuệ, thé chất, thâm mỹ của con em; người lớn có trách nhiệm giáo dục, làm gương cho con em, cùng nhà trường nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục”.
Văn kiện hội nghị lần thứ II Ban chap hành trung ương Đảng khóa VIII đã nhân mạnh tam quan trong của việc phối hợp giữa các lực lượng giáo dục: "Phát triển giáo dục lả sự nghiệp của toàn xã hội, của Nhà nước va mỗi cộng đồng, cia từng gia đình va mỗi công dân. Cần kết hợp tốt giáo dục học đường với giao dục gia đình và giáo dục xã hội, xây dựng môi trường giáo dục lanh mạnh; người lớn làm gương cho con trẻ noi theo”. Theo như lịch sử gido dục nước ta, từ lâu giữa nhà trường và gia đình đã có sự hợp tác chặt chẽ trong giáo dục trẻ, câu nói: "Muốn sang thì bắc cầu kiểu, muốn con hay chữ phải yêu lấy thay” đã khái quát ý nghĩa lớn lao về mối quan hệ nảy. Giáo dục liên quan đến mọi người, là lợi ích của mọi người, mọi gia đình, mọi cộng dong, do đó toàn xã hội phải có trách nhiệm đổi với giáo dục và việc phối hợp giáo dục giữa các lực lượng giáo dục: nhà trường.
gia đình và xã hội là không thể thiếu trong quá trình giáo dục. Chủ tịch Hỗ Chí Minh đã khăng định giáo dục trong nhà trường dù tốt đến mấy nhưng thiếu giáo dục trong gia đình va xã hội thì kết quả không hoàn toan:."Tré em trong như tam gương , cái tốt dễ tiếp thu, cái xấu cũng dé tiếp thu. Nếu nhà trường dạy tốt mà gia đình dạy ngược lại, sẽ có ảnh hướng không tốt tới trẻ em, vả kết quả cũng không tốt. Cho nên muốn giáo dục các chau thành người tốt, nhà trường, đoàn thé, gia đình và xã hội đều phải kết hợp chặt chẽ với nhau".
Quan điểm xãhội hoá trong giáo dục đã chỉ ra những khó khăn, thuận lợi của nước ta trong điều kiện nén kinh tế thị trường đối với sự nghiệp giáo dục, đào tạo và trên cơ sở đó đã khẳng định ý nghĩa cấp thiết cũng như tác dụng to lớn của việc xây dựng mỗi quan hệ hợp tác giữa gia đình, nhà trường và xã hội trong việc giáo dục đào tạo thế hệ trẻ thành công dân có đủ đức-tài phục vụ cho tiến trình công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước trong giai đoạn hiện nay. Sự phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong việc quản lý hoạt động học tập của học sinh được tiền hành từ xa xưa thông qua những hoạt động của các hội cha mẹ học sinh. Có thê ban đầu các hoạt động này mang tính tự phát và tương đối để thực hiện vì việc tham gia học tập của con em nhân dân lao động còn ít. Tuy nhiên, do sự phát triển của xã hội, nhu cầu vẻ lực lượng lao động có trí thức và tay nghé cao, nên việc tham gia học tập ngày càng đông.
Ở nước ta đã có nhiều công trình nghiên cứu, lý luận về sự phối hợp giữa nhà trường với gia đình và xã hội trong việc giáo dục thế hệ trẻ như: "Giáo dục gia đình" (Giáo trình đào tạo giáo viên THCS), "Giáo dục học- Một số vấn dé lý luận và thực tiễn" (Ha Thế Ngữ), "Quản lý công tác phối hợp giữa nha trường với cha mẹ học sinh ở các trưởng trung học cơ sở vùng nông thôn thị xã Bà Rịa" (Luận văn Thạc sĩ Giáo đục học của Dương Văn Thạnh), "Nghiên cửu sự phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong việc quan lý hoạt động học tập của học sinh ở các trường THPT tỉnh Ba Rja-Viing Tàu” (Luan văn Thạc sĩ Giáo dục học của Nguyễn Văn Trung). Các công trình nghiên cứu đã khăng định gia đình có tính quyết định trong việc giáo dục thế hệ trẻ và sự phối hợp giữa giáo dục nhà trường và giáo dục gia đình là không thé thiếu trong quá trình giáo dục trẻ. Bởi lẽ gia đình có vị trí và vai trò hết sức to lớn trong việc hình thành và phát triển nhân cách của trẻ em. Giáo dục gia đình có tính xúc cảm hơn so với bất cứ môitrường giáo dục nảo khác, vì nó dựa trên tỉnh thương yêu của cha mẹ đối với con cái va tình cảm quyến luyến tin cậy của con cái đối với cha mẹ, do đó giáo dục gia đình có ảnh hưởng lớn trong xây dựng tinh cảm, niềm tin, tích cách con người.
Giáo dục gia đình còn mang tinh ôn định, lâu bền. Những phẩm chất của cha mẹ va các thành viên trong gia đình cỏ sự tác động trực tiếp, thường xuyên đến trẻ em. Do đó những ảnh hưởng của gia đình thời thơ au thường để lại dấu fin sâu sắc trong tâm hôn của trẻ em. Tuy nhiên, tình yêu thương rộng lớn của ba mẹ doi với con cái nêu không có yêu cau cao vẻ giáo duc, không có tính 10 nguyên tắc có thé sẽ là nguyên nhân dẫn đến những thói hư, tật xấu ở con cải.
Những cha mẹ cỏ tư tưởng lạc hậu, quan niệm giáo dục lỗi thời , không có tri thức khoa học sẽ làm cho giáo dục gia đình mâu thuần với giáo dục nhà trường và giáo dục xã hội. Vì vậy gia đình, nhà trường và xã hội cần phải phối hợp dé phát huy những mặt tốt và khắc phục những hạn chế trong giáo dục gia đình dé công tác giáo dục học sinh đạt được hiệu quả cao nhất.2 Cơ sở lý luận của đề tài 1.1 Các khái niệm liên quan đến đề tài.1 Khái niệm quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường.1 Quan lý Khái niệm "quản lý" là một khái niệm rất chung, tông quát. Có rất nhiều quan niệm khác nhau vẻ khái niệm quản lý. Dưới đây là một số quan niệm chủ yêu: - Theo Bách khoa toan thư Liên Xô, 1977, quan ly là chức năng của những hệ thống có tổ chức với bản chất khác nhau (xã hội, sinh vật, kỹ thuật), nó bảo toàn cấu trúc xác định của chúng, duy trì chế độ hoạt động, thực hiện chương trình, mục đích hoạt động.Mac đã khẳng định: " Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nao tiến hành trên quy mô tương đổi lớn, thi ít nhiều cũng cân đến một sự chỉ đạo dé điều hoa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ chế sản xuât.Một người độc tấu vĩ cam tự mình điều khiển lẫy mình , còn một dan nhạc thì cần phải có nhạc trưởng”.Taylor người đưa ra học thuyết quản lý thì: " Quản lý là biết chính xác điều muốn nguùơi khác làm va sau đó thấy rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất vả rẻ nhất.
- Tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: " Quan ly là những tác động có định hướng , có kế hoạch của chủ thé quản lý đến đối tượng bị quản lý trong tô chức dé vận hành tổ chức , nhằm đạt được mục đích nhất định". - Trần Kiểm cho rang: "Quản lý là những tác động của chủ thé quan lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu 14 nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tô chức với hiệu quả cao nhất”. Trong quá trình phát triển lý luận quản lý, có nhiều khái niệm khác nhau về quản ly do các nhà nghiên cứu lý luận đưa ra: " Quản lý được hiểu là việc bảo đảm hoạt động của hệ thống trong điều kiện có sự biến đổi liên tục của hệ thống và môi trường, là chuyển động của hệ thống đến trạng thái mới thích ứng với hoàn cảnh mới”.