Chương 1: Cơ sở lý luận Quản lý công tác phối hợp giữa gia đình và cơ sở giáo dục mầm non công lập Chương 2: Thực trạng Quản lý công tác phối hợp giữa gia đình và cơ sở giáo dục mầm non công lập huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông trong chăm sóc giáo dục trẻ nhóm tuổi nhà trẻ. Chương 3: Biện pháp Quản lý công tác phối hợp giữa gia đình và cơ sở giáo dục mầm non công lập huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông trong chăm sóc giáo dục trẻ nhóm tuổi nhà trẻ. 8 NỘI DUNG CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ CÔNG TÁC PHỐI HỢP GIỮA GIA ĐÌNH VÀ CƠ SỞ GIÁO DỤC MẦM NON CÔNG LẬP 1. Khái lƣợc lịch sử nghiên cứu vấn đề 1.
Trên thế giới Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều coi công tác phối hợp giữa cơ sở giáo dục mầm non và gia đình trong chăm sóc giáo dục trẻ là vấn đề rất quan trọng trong phát triển giáo dục. Việc tạo mọi điều kiện để mọi người có cơ hội học tập, học tập thường xuyên, học tập mọi lúc mọi nơi, để kịp thời bổ sung kiến thức và đổi mới hình thức tổ chức các hoạt động giáo dục để phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội là phương châm hành động của các cấp quản lý giáo dục. Đầu thế kỷ 21, vai trò của gia đình trong hoạt động phối hợp gia đình với nhà trường được đề cao hơn nữa. Trong bài phát biểu gần đây của mình, tại một hội nghị diễn ra ở Lon don, ông Alan Johnson, bộ trưởng Bộ giáo dục Anh, cho rằng cha mẹ không nên phó thác việc chăm sóc, giáo dục con em mình cho nhà trường.
Ngược lại, ông cho biết vai trò của các bậc phụ huynh rất quan trọng, thậm chí sẽ mang lại một sự “khác biệt to lớn” so với kết quả mà trẻ đạt được từ trường học. Theo ông Johnson, việc giáo dục con trẻ tuy là vấn đề riêng tư của mỗi gia đình nhưng lại có ảnh hưởng lớn đến xã hội sau này. Các trường mầm non Liên bang Nga đặc biệt chú trọng công tác phối hợp giáo dục với cha mẹ trẻ, coi đây là một nhiệm vụ thiết thực, tạo sự liên kết thống nhất giữa trường mầm non và gia đình về nội dung, phương pháp, cách tồ chức nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ ở lớp cũng như ở nhà. Trong những năm gần đây, giáo dục mầm non của Nga đã hình thành một triết lý mới về sự hợp tác giữa trường mầm non với các gia đình: cha mẹ là những người chăm sóc, giáo dục chính đối với trẻ em, vai trò của giáo viên là đồng hành cùng với cha mẹ trẻ, bổ sung va hỗ trợ hoạt động giáo dục của họ.
Điều 9 quan trọng là cần đạt được sự tin tưởng, hiểu biết lẫn nhau và tương tác thường xuyên giữa giáo viên và cha mẹ trẻ. Những nghiên cứu ở trong nước: Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “ Phải mật thiết liên hệ với gia đình học trò bởi vì giáo dục trong nhà trường chỉ là một phần, còn cần có sự giáo dục ngoài xã hội và trong gia đình để giúp cho việc giáo dục trong nhà trường được tốt hơn. Giáo dục trong nhà trường dù tốt mấy nhưng thiếu giáo dục trong gia đình và ngoài xã hội thì kết quả cũng không hoàn toàn” [4]. Nghị quyết số 29-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XI chỉ rõ cách làm: “.Đổi mới từ sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đến hoạt động quản lí của các cơ sở GD&ĐT và việc tham gia của gia đình, cộng đồng, xã hội và bản thân người học; đổi mới ở tất cả các bậc học, ngành học.Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học.
Học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội” [5]. Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng, đánh giá cao vai trò của giáo dục. Giáo dục là động lực của sự nghiệp đổi mới và tiến bộ xã hội, là con đường căn bản để nâng cao tri thức, thúc đẩy sự phát triển toàn diện của con người. Trong những năm gần đây, đặc biệt là sau khi mở chương trình đào tạo Thạc sĩ quản lý giáo dục, các nhà quản lý giáo dục, hiệu trưởng, phó hiệu trưởng các nhà trường đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề này.
Bùi Thị Thúy Hằng (2011), “Một số biện pháp phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong chăm sóc giáo dục trẻ ở các trường mầm non quận cầu Giấy, Hà Nội”, Trường đại học Vinh [25]. Võ Thị Tường Vy (2016), “Quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong công tác chăm sóc, giáo dục trẻ 5 tuổi ở trường mầm non công lập, phường 3, quận 10, thành phố Hồ Chí Minh” [26]. 10 Tại Điều 47 Điều lệ trường mầm non (Ban hành kèm theo Quyết định số 04/VBHN-BGDĐT ngày 24/12/2015 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT) nêu rõ về trách nhiệm của gia đình: “Thường xuyên liên hệ với nhà trường, nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo (MG) độc lập để được thông báo kịp thời tình hình của trẻ em nhằm phối hợp trong việc chăm sóc, giáo dục trẻ em. Tham gia các hoạt động của nhóm trẻ, lớp mẫu giáo, nhóm trẻ, nhà trẻ góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ em” [6].
Tại Điều 46 của Điều lệ ghi rõ trách nhiệm của nhà trường, nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp MG độc lập là “Nhà trường, nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp MG độc lập chủ động đề xuất biện pháp với cấp ủy và chính quyền địa phương, phối hợp với gia đình và xã hội nhằm thống nhất quy mô, kế hoạch phát triển, các biện pháp giáo dục trẻ em và quan tâm giúp đỡ những trường hợp trẻ em có hoàn cảnh khó khăn; Phối hợp với cơ quan, các tổ chức chính trị - xã hội và cá nhân có liên quan nhằm: Tuyên truyền phổ biến kiến thức nuôi dạy trẻ cho cha mẹ và cộng đồng; thực hiện phòng bệnh, khám sức khỏe định kỳ cho trẻ em. Huy động các nguồn lực của cộng đồng chăm lo sự nghiệp giáo dục mầm non; góp phần xây dựng cơ sở vật chất; xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, an toàn; tạo điều kiện để nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ em” [6]. Thông tư 55/2011/TT-BGDĐT ngày 22/11/2011 của Bộ Giáo dục và Đào tạo Ban hành Điều lệ Ban đại diện cha mẹ học sinh có hướng dẫn tổ chức và hoạt động của Ban đại diện cha mẹ học sinh, làm cầu nối giữa cha mẹ học sinh với nhà trường, hỗ trợ nhà trường trong việc vận động cha mẹ tham gia thực hiện tốt các hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ [7]. Ngày 23/12/2008, Bộ GD&ĐT ban hành Chỉ thị số 71/2008/CT- BGDĐT về tăng cường phối hợp nhà trường – gia đình và xã hội trong công tác giáo dục trẻ em, học sinh, sinh viên, trong đó nêu rõ: "Đối với các trường MN cần tập trung: Tiếp tục nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác chăm sóc, giáo dục trẻ; thu hút tối đa trẻ em trong độ tuổi đến trường, chuẩn bị cho trẻ mẫu giáo lớn vào tiễu học; trao đổi thông tin thường xuyên giữa nhà 11 trường với gia đình; kết hợp tuyên truyền, phồ biến kiến thức khoa học chăm sóc, giáo dục trẻ; xử lí kịp thời các vấn đề liên quan đến chăm sóc, giáo dục trẻ trong trường học’’[8].
Đối với việc phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong chăm sóc giáo dục trẻ, Dự án “Tăng cường khả năng sẵn sàng đi học cho trẻ mầm non” (2013) đã đành 2 mô đun về “Hợp tác với cha mẹ trong việc chăm sóc, giáo dục trẻ” cho cán bộ quản lý và giáo viên mầm non. Các mô đun này đã tập trung làm rõ các vấn đề cơ bản như cơ sở pháp lý của viêc thu hút cha mẹ tham gia chăm sóc giáo dục trẻ mầm non, lợi ích của việc phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong việc chăm sóc giáo dục trẻ mầm non, chia sẻ thông tin với cha mẹ trẻ [9]. Trong các tài liệu hướng dẫn tổ chực thực hiện chương trình giáo dục mầm non (2016) các tác giả Lê Thị Ánh Tuyết, Trần Thị Ngọc Trâm, Lê Thu Hương đã xác định các nội dung phối hợp giữa trường mầm non với gia đình: Phối hợp thực hiện chương trình chăm sóc bảo vệ sức khỏe cho trẻ; chương trình chăm sóc giáo dục trẻ; kiểm tra đánh giá công tác chăm sóc giáo dục trẻ của trường mầm non; Tham gia xây dựng cơ sở vật chất. Tài liệu cũng chỉ ra các hình thức phối hợp của nhà trường với gia đình bao gồm: Qua bảng thông báo, góc tuyên truyền cho cha mẹ của nhà trường hoặc tại mỗi nhóm lớp; Trao đổi thưởng xuyên, hằng ngày trong các giờ đón, trả trẻ, Tổ chức những buổi sinh hoạt, phổ biển kiến thức chăm sóc giáo dục trẻ theo chuyên đề đặc biệt hoặc khi có dịch bệnh, họp cha mẹ học sinh định kì (3 lần/1 năm); Thông qua các đợt kiểm tra sức khỏe cho trẻ; Thông qua các hội thi, hoạt động văn hóa văn nghệ; cán bộ, giáo viên đến thăm trẻ tại nhà; Hòm thư cha me; cha me học sinh tham quan các hoạt động của trường mầm non; Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng.
Vai trò, ý nghĩa của sự phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục nói chung và chăm sóc giáo dục trẻ mầm non nói riêng đã được đề cập trong nhiều công trình nghiên cứu. Trong cuốn “Giáo dục học” tập 2 (1997) các tác giả Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt đã dành một chương viết về phối 12 hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng trong giáo dục học sinh. Các tác giả đã phân tích ý nghĩa, mục tiêu, nội dung, phương pháp và hình thức phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng trong giáo dục học sinh [11]. Trong cuốn “Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa của thế kỷ XXI” (2002) tác giả Phạm Minh Hạc khẳng định sự nghiệp giáo dục của Việt Nam không phải chỉ do Nhà nước gánh vác, mà phải có sự chung sức của các lực lượng xã hội cùng tham gia vào sự nghiệp giáo dục, tạo nên một xã hội học tập [12].