Luận văn: Quản lý hoạt động nội trú của Tăng Ni sinh ở Học viện Phật giáo VN TPHCM

Luận văn nghiên cứu thực trạng, các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động nội trú của tăng ni sinh tại Học viện Phật giáo Việt Nam TP.HCM.

Chuyên ngành

Quản lý giáo dục

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2024

127
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm và tầm quan trọng của quản lý nội trú Tăng Ni sinh

Quản lý nội trú là một hoạt động quản lý giáo dục quan trọng tại Học viện Phật giáo TPHCM, đặc biệt là ở cơ sở 2. Đây là công tác liên quan đến việc tổ chức, điều hành và giám sát các hoạt động hàng ngày của Tăng Ni sinh sống tập trung tại các ký túc xá. Quản lý nội trú không chỉ bảo đảm an ninh, an toàn cho Tăng Ni sinh mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình học tập, tu tập và phát triển nhân cách. Tầm quan trọng của công tác quản lý hoạt động nội trú nằm ở khía cạnh toàn diện, từ việc xây dựng môi trường sống lành mạnh, nâng cao ý thức kỷ luật, cho đến việc phòng chống các tệ nạn xã hội. Các nhân viên quản lý nội trú, đặc biệt là giảng sư quản nhiệm, đóng vai trò then chốt trong việc thực hiện nhiệm vụ này một cách hiệu quả.

1.1. Khái niệm quản lý hoạt động nội trú

Quản lý hoạt động nội trú của Tăng Ni sinh là quá trình tổ chức và điều hành các công tác liên quan đến sinh hoạt, học tập và tu tập của các học viên sống tại ký túc xá Học viện Phật giáo. Công tác này bao gồm tiếp nhận, quản lý kỷ luật, đảm bảo an toàn, và tổ chức các hoạt động hỗ trợ cho Tăng Ni sinh. Mục tiêu là tạo ra một môi trường sống có tổ chức, lành mạnh, giúp Tăng Ni sinh tập trung vào việc học tập, tu tập theo giáo lý Phật giáo.

1.2. Vai trò của giảng sư quản nhiệm nội trú

Giảng sư quản nhiệm nội trú là những cán bộ quản lý trực tiếp, chịu trách nhiệm hàng ngày về công tác quản lý. Họ có nhiệm vụ giám sát hoạt động, duy trì kỷ luật, xử lý các tình huống phát sinh, và báo cáo cho cấp quản lý. Vai trò này đòi hỏi sự tận tâm, hiểu biết sâu sắc về nhu cầu của Tăng Ni sinh và khả năng quản lý nhân sự chuyên nghiệp.

II. Thực trạng quản lý nội trú Tăng Ni sinh tại Học viện Phật giáo TPHCM

Nghiên cứu thực trạng quản lý nội trú Tăng Ni sinhcơ sở 2 Học viện Phật giáo Việt Nam tại TPHCM cho thấy cả những thành tựu lẫn những tồn tại. Về mặt tích cực, công tác tiếp nhận Tăng Ni sinh vào nội trú được thực hiện một cách có hệ thống, có sự phân công rõ ràng giữa các bộ phận. An ninh, an toàn trong khu nội trú được chú trọng, đặc biệt sau khi có những chỉ đạo về phòng chống dịch bệnh. Tuy nhiên, vẫn tồn tại những hạn chế như thiếu cơ sở vật chất hiện đại, năng lực của một số cán bộ quản lý chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu, và sự phối hợp giữa các lực lượng chưa luôn nhịp nhàng.

2.1. Điểm mạnh trong công tác quản lý nội trú

Điểm mạnh chính là sự cam kết của Học viện trong việc duy trì an ninh, an toàn cho Tăng Ni sinh. Các quy định kỷ luật được xây dựng rõ ràng, và công tác giám sát được thực hiện thường xuyên. Các hoạt động hỗ trợ tâm lý, sức khỏe cho Tăng Ni sinh được tổ chức định kỳ. Phối hợp giữa Học viện với các cơ quan địa phương cũng cho thấy sự trách nhiệm cao của nhà trường.

2.2. Những tồn tại cần khắc phục

Những tồn tại chính bao gồm: cơ sở vật chất ký túc xá cần được nâng cấp, năng lực chuyên môn của nhân viên quản lý còn hạn chế, hệ thống quản lý điện tử chưa được áp dụng rộng rãi. Ngoài ra, sự tham gia của Tăng Ni sinh vào các hoạt động nội trú cũng cần được tăng cường để nâng cao ý thức tự quản.

III. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nội trú Tăng Ni sinh

Quản lý hoạt động nội trú của Tăng Ni sinh ch受ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác nhau. Yếu tố nhân sự bao gồm nhận thức của Tăng Ni sinh về tầm quan trọng của việc tuân thủ quy định nội trú, và năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý. Yếu tố vật chất liên quan đến tài chính để nâng cấp cơ sở vật chất, thiết bị quản lý, và điều kiện sống của Tăng Ni sinh. Yếu tố thể chế bao gồm hệ thống quy định, chủ trương chính sách từ Học viện và các cơ quan quản lý giáo dục. Ngoài ra, môi trường xã hội xung quanh Học viện, đặc biệt là các ảnh hưởng tiêu cực từ xã hội hiện đại, cũng tác động đáng kể đến công tác quản lý.

3.1. Yếu tố nhân sự và nhận thức

Nhận thức của Tăng Ni sinh và cán bộ quản lý về ý nghĩa của hoạt động nội trú là nền tảng quan trọng. Khi Tăng Ni sinh hiểu rõ lợi ích của việc tuân thủ quy định, sự tự giác sẽ tăng lên. Năng lực chuyên môn của giảng sư quản nhiệm, bao gồm kỹ năng giao tiếp, quản lý xung đột và xử lý tình huống, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả công tác.

3.2. Yếu tố tài chính và cơ sở vật chất

Điều kiện tài chính của Học viện ảnh hưởng đến khả năng nâng cấp cơ sở vật chất, sửa chữa ký túc xá, và đầu tư vào hệ thống quản lý hiện đại. Cơ sở vật chất tốt không chỉ tạo môi trường sống tốt mà còn hỗ trợ công tác quản lý hiệu quả hơn, giảm thiểu các vấn đề về vệ sinh và an toàn.

IV. Giải pháp nâng cao chất lượng quản lý nội trú Tăng Ni sinh

Để nâng cao chất lượng quản lý nội trú Tăng Ni sinh tại cơ sở 2 Học viện Phật giáo TPHCM, cần triển khai các giải pháp toàn diện. Thứ nhất, nâng cao nhận thức cho tất cả những người liên quan thông qua các buổi tập huấn, hội thảo về tầm quan trọng của công tác quản lý. Thứ hai, cải thiện cơ sở vật chất bằng cách xin cấp vốn, tìm kiếm nguồn tài trợ để nâng cấp ký túc xá. Thứ ba, xây dựng hệ thống quản lý hiện đại sử dụng công nghệ thông tin để theo dõi, quản lý dễ dàng hơn. Thứ tư, tăng cường đội ngũ nhân sự có trình độ, tổ chức các khóa đào tạo chuyên nghiệp cho cán bộ quản lý. Thứ năm, phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chính quyền địa phương, gia đình Tăng Ni sinh để tạo môi trường hỗ trợ tốt nhất.

4.1. Nâng cao nhận thức và đào tạo cán bộ

Nâng cao nhận thức là bước đầu tiên để cải thiện chất lượng quản lý nội trú. Cần tổ chức các khóa đào tạo, hội thảo thường xuyên cho cán bộ quản lý về kỹ năng quản lý, giao tiếp, xử lý xung đột. Đồng thời, giáo dục ý thức cho Tăng Ni sinh về tầm quan trọng của kỷ luật, an toàn, vệ sinh thông qua các buổi sinh hoạt, học tập thường kỳ.

4.2. Đối mới công tác quản lý bằng công nghệ

Ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý nội trú sẽ giúp theo dõi, quản lý hiệu quả hơn. Xây dựng hệ thống quản lý điện tử để ghi nhận hoạt động Tăng Ni sinh, quản lý tài chính, và báo cáo công tác. Sử dụng camera giám sát trong các khu vực công cộng để đảm bảo an ninh, an toàn. Các ứng dụng mobile có thể giúp Tăng Ni sinh và cán bộ quản lý giao tiếp, cập nhật thông tin kịp thời.

18/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Cơ sở lí luận về quản lý hoạt động nội trú Tăng Ni sinh ở cơ sở 2 Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh. Thực trạng quản lý hoạt động nội trú của Tăng Ni sinh ở cơ sở 2 Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh. Biện pháp quản lý hoạt động nội trú của Tăng Ni sinh ở cơ sở 2 Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh.

CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NỘI TRÚ TĂNG NI SINH Ở CƠ SỞ 2 HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu ở nước ngoài Ở nước ngoài, các nghiên cứu về vấn đề nội trú của học sinh đã được nhiều tổ chức, cá nhân quan tâm nghiên cứu. Đầu tiên phải kể đến Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế đã công bố công trình Equity and Quality in Education: Supporting Disadvantaged Students and Schools.

Cuốn sách đã đưa ra bằng chứng về các đòn bẩy chính sách có thể giúp khắc phục thất bại ở trường học và giảm bất bình đẳng trong hệ thống giáo dục OECD. Trong đó việc quan tâm đến công tác nội trú cho học sinh cũng là một biện pháp được cuốn sách nghiên cứu trong các biện pháp giảm thiểu sự bất công trong môi trường giáo dục [27]. Tiếp đến là bài viết The Effect of Teacher-Family Communication on Student Engagement: Evidence from a Randomized Field Experiment. Nhóm tác giả đã đánh giá hiệu quả của giao tiếp giữa giáo viên với phụ huynh và học sinh.

Qua nghiên cứu thực tiễn nhóm học sinh từ lớp 6 đến lớp 9, nhóm tác giả đã phân tích được vai trò rất quan trọng trong sự kết nối giữa giáo viên, phụ huynh và học sinh nội trú [28] Tiếp đến là luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục The Influence of Household Chores on Girls’ Academic Performance in Secondary Schools in Morogoro Rural. Nghiên cứu đề cập đến ba mục tiêu nghiên cứu là tìm hiểu các loại công việc gia đình và thời gian thực hiện các hoạt động của trẻ em gái ở trường trung học; đánh giá kết quả học tập của trẻ em gái ở trường trung học và xác định mức độ thời gian dành cho công việc gia đình ảnh hưởng đến kết quả học tập của học sinh. Từ đó, tác giả đã đề xuất biện pháp là xây dựng môi trường nội trú cho các học sinh gái tại trường Morogoro để giảm thiểu sự áp lực của công việc gia đình tác động lên kết quả học tập của các học sinh [26]. Các công trình kể trên mới dừng lại ở việc phân tích hoạt động nội trú cho sinh viên là một biện pháp trong các biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục chứ chưa đi vào phân tích, làm rõ những nội dung, phương pháp, cách thức quản lý hoạt động nội trú cụ thể.

Nghiên cứu ở trong nước Trong những năm gần đây, quy mô đào tạo của các trường ĐH, CĐ tăng gấp nhiều lần so với trước đây. Trong khi đó việc xây dựng bổ sung thêm nhà ở, cơ sở vật chất còn nhiều hạn chế. Do vậy hiện nay KTX của các trường không thể đáp ứng được nhu cầu ở nội trú của số lượng lớn SV. Vấn đề nghiên cứu về quản lý công tác sinh viên nội trú ít được đề cập.

Năm 1997 Bộ GD-ĐT ban hành riêng “Quy chế TNS, học sinh nội trú trong các trường đại học, cao đẳng, TCCN” nhằm quy định rõ trách nhiệm và quyền hạn của các trường trong việc tổ chức quản lý khu nội trú, quyền và nghĩa vụ của TNS, học sinh trong các khâu liên quan đến việc ăn, ở, học tập, sinh hoạt. trong khuôn viên nội trú của các trường đào tạo. Để phù hợp với mục tiêu đào tạo trong tình hình mới, ngày 18 tháng 10 năm 2002 Bộ trưởng Bộ GD-ĐT đã ký Quyết định số 41/2002/QĐ-BGD&ĐT về việc sửa đổi bổ sung công tác TNSTNS nội trú. Ngày 26/7/2011 Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ký Thông tư số 27/2011/TT-BGD&ĐT về việc Ban hành Quy chế công tác TNSTNS nội trú tại các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân.

Thông tư này có hiệu lực thi hành ngày 10 tháng 8 năm 2011 và thay thế Quyết định số 2137/GD-ĐT ngày 29/6/1997 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc ban hành Quy chế công tác TNSTNS nội trú trong các trường Đại học, Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp và dạy nghề; Quyết định số 41/2002/QĐ-BGDĐT ngày 18 tháng 10 năm 2002 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo. Những nghiên cứu trên đã tìm hiểu thực trạng công tác quản lý sinh viên trong đó có quản lý sinh viên nội trú và từ đó đề xuất các biện pháp quản lý. Tuy nhiên, những nghiên cứu về quản lý sinh viên nội trú ở các trường phổ thông nhiều cấp học hiện nay chưa có nhiều đề tài nghiên cứu cụ thể. Một số khái niệm 1.

Quản lý, Quản lý giáo dục 1. Quản lý Hiện nay, đa số các nhà nghiên cứu đều thống nhất khái niệm sau: “Quản lý là quá trình tác động có chủ định, hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm tạo ra các hoạt động hướng tới đạt mục đích chung của tổ chức dưới sự tác động của môi trường”. Hoặc các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động 7 (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra”. Có nhiều cách hiểu khác nhau, cách diễn đạt khác nhau về quản lý, song một cách tổng quát nhất có thể khái quát: Quản lý là cách thức tác động (sự tác động có tổ chức, có mục đích.) của chủ thể quản lý lên chủ thể bị quản lý bằng các chế định xã hội, bằng tổ chức nguồn nhân lực, tài lực và vật lực, phẩm chất, uy tín của cơ quan quản lý hoặc người quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được mục đích trong điều kiện môi trường luôn biến động [9].

Khái niệm quản lý là một khái niệm rộng, có nhiều cách tiếp cận với công tác quản lý khác nhau, do vậy có nhiều cách đưa ra khái niệm này, sau đây là một số khái niệm về quản lý. Trong thực tiễn, thuật ngữ “quản lý” (Tiếng Việt gốc Hán) gồm 2 quá trình tích hợp vào nhau: quá trình “quản” gồm coi sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng thái ổn định; quá trình “lý” gồm sự sửa sang, sắp xếp, đổi mới đưa hệ thống vào thế phát triển.W Taylor, một nhà quản lý người Mỹ cho rằng: “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất”. Theo tác giả Trần Kiểm: “Quản lý là những tác động có định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng bị quản lý trong tổ chức để vận hành tổ chức, nhằm đạt mục đích nhất định” [22]. Theo Giáo trình quản lý hành chính Nhà nước (Tập II): Quản lý là quá trình làm việc cùng và thông qua cá nhân, các nhóm cũng như các nguồn lực khác để hoàn thành các mục đích tổ chức.

Thành quả đạt được các mục đích tổ chức thông qua lãnh đạo chính là quản lý. Quản lý có nghĩa là “điều khiển”. Đối tượng điều khiển là các mối quan hệ giữa: con người với thiên nhiên, với kỹ thuật, công nghệ và con người với nhau. Từ đó, quản lý là “sự tác động, chỉ huy, điều khiển các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để chúng phát triển phù hợp với quy luật, đạt tới mục đích đề ra và đúng với ý chí của người quản lý” [20].

Tác giả Bùi Minh Hiền cho rằng: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra”. Quản lý là quá trình thực hiện lần lượt và đầy đủ 4 chức năng cơ bản: xây dựng kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra. Nhưng trên thực tế, trong quá trình thực hiện thì các chức năng này không thực hiện riêng rẽ mà nó đan xen, hỗ trợ nhau thông qua chất xúc tác để đảm bảo tính liên kết là thông tin và các quyết định của người CBQL [19]. 8 Bằng cách lý giải khác, Hà Sĩ Hồ cho rằng: “Quản lý là một quá trình tác động có định hướng, có tổ chức, lựa chọn trong số các tác động có thể dựa trên các thông tin về tình trạng của đối tượng nhằm giữ cho sự vận hành của đối tượng được ổn định và làm cho nó phát triển tới mục đích đã định [21].

Trong thời đại khoa học - kỹ thuật ngày nay, “Quản lý còn được xem là công nghệ – công nghệ điều hành, phối hợp, sử dụng các nguồn năng lực, vật lực, tài lực và thông tin của một tổ chức để đạt tới mục tiêu đề ra”. * Các chức năng quản lý Quản lý là một hoạt động tất yếu khi có nhiều người làm việc với nhau để thực hiện một công việc chung hoặc nhằm một mục tiêu chung. Với điều kiện kỹ thuật quá thô sơ, bản thân con người phải dựa vào nhau sinh sống, phải cùng nhau lao động để chinh phục thiên nhiên để phục vụ cho mình và cho mọi người. Chức năng quản lý là nội dung cơ bản nhất của quá trình quản lý, là nhiệm vụ cơ bản của chủ thể quản lý.

Lao động quản lý là một dạng lao động đặc biệt, lao động sáng tạo. Hoạt động quản lý phát triển không ngừng từ thấp đến cao. Đồng thời hoạt động quản lý cũng phát triển về quy trình quản lý ngày một hiện đại hơn: Đó là chuyên môn hóa lao động quản lý. Sự phân công chuyên môn hóa lao động quản lý là cơ sở hình thành các chức năng quản lý.

Như vậy, hoạt động quản lý ra đời khi xã hội loài người xuất hiện, tức là thời công xã nguyên thủy. Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang thì chức năng quản lý là dạng hoạt động quản lý thông qua đó chủ thể quản lý tác động vào khách thể quản lý nhằm thực hiện một mục tiêu nhất định.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ