Tổng quan về luận án

Thực tiễn lịch sử kinh tế thế giới ghi nhận việc các chính phủ sử dụng công cụ nợ công để huy động nguồn lực phát triển đã tồn tại hơn 300 năm. Theo dữ liệu từ Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF, 2021), trong tổng số 227 quốc gia và vùng lãnh thổ, có 192 thực thể (chiếm 85%) công bố số liệu nợ công chính thức, với tỷ lệ Tổng nợ công/GDP phân bổ rộng từ 1% đến 304%. Tổng quy mô nợ công toàn cầu tính đến năm 2020 đã chạm mức 87,4 ngàn tỷ USD, tương đương 99% GDP toàn cầu. Mặc dù việc gia tăng nợ công mang lại nguồn lực tài khóa trọng yếu cho phát triển kinh tế - xã hội, song nghĩa vụ trả nợ gốc và nợ lãi lũy kế cũng làm gia tăng rủi ro mất khả năng thanh toán và khủng hoảng nợ công mang tính chu kỳ.

Khoảng trống nghiên cứu (Research Gap) cốt lõi xuất phát từ thực trạng lý luận quản lý nợ công hiện hành còn nhiều khiếm khuyết. Suốt nhiều thập kỷ qua, các nghiên cứu kinh tế lượng thực nghiệm sử dụng hồi quy cặp biến số giữa Tổng nợ công và GDP đã mang lại những kết quả mâu thuẫn sâu sắc: tác động tuyến tính âm, tuyến tính dương, phi tuyến có ngưỡng, hoặc phi tương quan. Hơn nữa, các khuyến nghị áp đặt mức trần nợ công phổ quát như 45%, 60% (Hiệp ước Maastricht của Liên minh Châu Âu), 64%, 77%, hay 90% GDP (Reinhart & Rogoff) hoàn toàn thiếu cơ sở khoa học xác đáng khi áp dụng vào từng nền kinh tế cụ thể. Minh chứng là 41 nền kinh tế phát triển (như Mỹ với nợ công 122% GDP, Nhật Bản với 257% GDP, Anh, Pháp, Ý, Canada...) duy trì tỷ lệ nợ công vượt ngưỡng 90% đến 304% GDP, đóng góp trên 50% GDP toàn cầu và chiếm gần 1/3 dân số thế giới, nhưng vẫn duy trì vững chắc an toàn tài chính quốc gia.

Đối với Việt Nam, Luật Quản lý nợ công năm 2017 quy định nợ công chỉ sử dụng chủ yếu cho đầu tư phát triển và trả nợ gốc, tuyệt đối không bố trí cho chi thường xuyên. Tuy nhiên, lý luận tài chính công chưa cung cấp một công cụ toán - kinh tế chuẩn xác nào để trả lời câu hỏi căn bản: "Sử dụng nợ công thế nào để Tổng sản phẩm nội địa và Thu ngân sách cao hơn so với khi không sử dụng nợ công và đảm bảo an toàn tài chính quốc gia?".

Để giải quyết khoảng trống này, luận án tiến sĩ kinh tế chuyên ngành Tài chính – Ngân hàng (Mã số: 9 34 02 01) của NCS. Nguyễn Thiện Đức tại Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh (người hướng dẫn khoa học: PGS. Lý Hoàng Ánh và PGS. Trần Hoàng Ngân) đã xây dựng hệ thống mô hình định lượng cấu trúc và quan hệ nhân quả toàn diện.

Hệ thống câu hỏi nghiên cứu được xác lập mạch lạc:

  1. Mối quan hệ nhân quả, định lượng giữa nợ công (thông qua 6 tham số cấu trúc) với GDP và Thu ngân sách được lượng hóa như thế nào qua hàm toán học cụ thể?
  2. Những điều kiện biên nào bảo đảm việc sử dụng nợ công đạt trạng thái bền vững và an toàn tài chính quốc gia?
  3. Nguyên nhân thực chất giúp Mỹ và Nhật Bản duy trì quy mô nợ công vượt trội nhưng không rơi vào khủng hoảng thanh toán, và những bài học kinh nghiệm tương thích nào có thể rút ra cho Việt Nam?
  4. Cơ sở khoa học và thực tiễn để chính phủ tối ưu hóa quy mô và lộ trình bội chi ngân sách phục vụ đầu tư phát triển là gì?
  5. Qua phân tích thực nghiệm tại 88 quốc gia trong đại dịch COVID-19, quy luật chi phí và hiệu quả sử dụng nợ công đối phó khủng hoảng quy mô lớn được lượng hóa ra sao?
  6. Những kiến nghị giải pháp đồng bộ và định hướng sửa đổi Luật Quản lý nợ công 2017 nào cần thực thi tại Việt Nam giai đoạn 2022 – 2030?

Khung lý thuyết của luận án tích hợp lý thuyết tăng trưởng nội sinh, lý thuyết tài chính công hiện đại và mô hình quan hệ nhân quả có cấu trúc. Phạm vi nghiên cứu bao quát dữ liệu kinh tế vĩ mô toàn cầu của 88 - 92 quốc gia (chiếm 94% GDP và 79% dân số thế giới), chuỗi số liệu lịch sử của Mỹ và Nhật Bản (2000 – 2021) và thực tiễn quản lý nợ công Việt Nam giai đoạn 2006 – 2021 với tầm nhìn chính sách đến năm 2030.

Literature Review và Positioning

Tổng quan y văn quốc tế cho thấy các tranh luận học thuật về nợ công trong hơn ba thế kỷ qua bị phân tách sâu sắc bởi ba trường phái kinh tế chính trị chính (Salsman, 2017):

  • Trường phái bi quan về nợ công (Public Debt Pessimists): Kế thừa tư tưởng cổ điển của Adam Smith và David Hume, lập luận rằng nợ chính phủ dẫn đến lãng phí nguồn lực xã hội, chèn lấn đầu tư tư nhân (crowding-out effect), làm suy thoái tích lũy tư bản và đẩy quốc gia đến bờ vực phá sản tài khóa.
  • Trường phái lạc quan về nợ công (Public Debt Optimists): Chịu ảnh hưởng từ lý thuyết kinh tế vĩ mô Keynesian hiện đại, coi nợ công và bội chi ngân sách là công cụ tài khóa chủ động để tài trợ hàng hóa công, kích cầu tổng thể, kích thích tăng trưởng kinh tế trong thời kỳ suy thoái và tối ưu hóa phân bổ nguồn lực liên thế hệ.
  • Trường phái thực tế về nợ công (Public Debt Realists): Tiếp cận theo hướng cân bằng chi phí - lợi ích, xem xét tác động của nợ công tùy thuộc vào thể chế quản trị, môi trường kinh tế vĩ mô và mục đích giải ngân vốn vay.

Xung đột học thuật nổi bật nằm ở tính hợp lệ của ngưỡng nợ công tối ưu (Debt Threshold). Các nghiên cứu thực nghiệm của Reinhart và Rogoff (2010) đưa ra ngưỡng 90% GDP cho các nước phát triển, Kumar và Woo (2010) đề xuất mức 64% cho các thị trường mới nổi, trong khi Caner, Grennes và Koehler-Geib (2010) xác định ngưỡng 77% cho các nước phát triển và 64% cho các nền kinh tế đang phát triển. Tại Việt Nam, các mô hình hồi quy ngưỡng của các nhóm tác giả giai đoạn 2012 – 2020 đề xuất các con số phân kỳ: 75,8% GDP (2012), 68% GDP (2016) và 79,3% GDP (2020), đạt mức trung bình 74,3% GDP. Tuy nhiên, Anis (2010), khi rà soát các nghiên cứu nền tảng của IMF, đã khẳng định không tồn tại cơ sở khoa học vững chắc cho một ngưỡng nợ công tối ưu bất biến áp dụng chung cho mọi nền kinh tế.

Hạn chế nghiêm trọng nhất của các định chế như Ngân hàng Thế giới (World Bank) và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (Dornbusch & Draghi, 2008; IMF, 2001) là việc giản lược hóa khái niệm quản lý nợ công vào nhiệm vụ huy động vốn với chi phí thấp nhất và rủi ro chấp nhận được, mà bỏ quên cơ chế liên kết nhân quả giữa nợ công với quy mô tăng trưởng GDP và tạo lập nguồn Thu ngân sách. Neck và Sturm (2008) đã chỉ rõ: "Mặc dù tính bền vững của tài chính công đã được thảo luận hơn 1 thế kỷ, song cho đến nay nó vẫn là một quan niệm không chính xác... chưa có sự thống nhất về một định nghĩa những cái gì tạo nên một vị thế nợ có tính bền vững".

Luận án của NCS. Nguyễn Thiện Đức đã định vị nghiên cứu của mình như một bước đột phá giải quyết triệt để sự bế tắc y văn kéo dài cả thế kỷ nói trên. Bằng việc bác bỏ các mô hình hồi quy nhị biến đơn giản hóa ($TNC \to GDP$), luận án chuyển dịch trọng tâm sang việc mô hình hóa cấu trúc nội sinh gồm 9 biến số kinh tế vĩ mô trực tiếp, làm rõ cơ chế truyền dẫn của nợ công vào năng lực sản xuất của nền kinh tế.

Đóng góp lý thuyết và khung phân tích

Đóng góp cho lý thuyết

Luận án mở rộng và định hình lại lý thuyết quản lý tài chính công hiện đại thông qua việc lượng hóa 6 tham số cấu trúc của nợ công:

  1. Quy mô Bội chi ngân sách hằng năm ($BC_i$) nhằm bổ sung nguồn lực đầu tư vượt quá Thu ngân sách.
  2. Lãi suất phát hành trái phiếu chính phủ ($ls_i$) để tài trợ bội chi năm $i$.
  3. Tổng nợ công tích lũy đầu kỳ ($TNC_{i-1}$) từ các khoản vay quá khứ chưa tất toán.
  4. Lãi suất bình quân danh định ($\bar{ls}_{i-1}$) chi trả cho Tổng nợ công tích lũy trong năm $i$.
  5. Nghĩa vụ hoàn trả nợ gốc đến hạn ($TNG_i$) tại năm $i$: $TNG_i = \sum BC_{ik}$.
  6. Phương thức thực thi nghĩa vụ nợ gốc (Mô hình vay nợ mới trả nợ gốc cũ hoặc Mô hình trả nợ gốc linh hoạt từ thặng dư ngân sách và bán tài sản công).
[Bội chi năm i (BCi)] + [Lãi suất phát hành (lsi)] 
                        \
                         +--> [Gia tăng GDP & Thu ngân sách] <--> [Hàm GDP & Hàm TNS]
                        /
[Tổng nợ công (TNCi-1)] + [Lãi suất bình quân (ls_bar_i-1)]

Đóng góp lý thuyết trung tâm của công trình là việc lần đầu tiên thiết lập thành công phương trình vi phân toán - kinh tế biểu diễn Hàm Tổng sản phẩm nội địa GDP có sử dụng nợ công:

$$GDP_i = m_i \cdot GDP_{i-1} + q_i \cdot (ĐTNNS_i - CNSKĐT_i) + q_i \cdot (1 - ls_i) \cdot \left[ BC_i - \frac{\bar{ls}{i-1}}{1 - ls_i} \cdot TNC{i-1} \right]$$

Và Hàm Thu ngân sách Nhà nước có sử dụng nợ công tương ứng:

$$TNS_i = tns_i \cdot m_i \cdot GDP_{i-1} + tns_i \cdot q_i \cdot (ĐTNNS_i - CNSKĐT_i) + tns_i \cdot q_i \cdot (1 - ls_i) \cdot \left[ BC_i - \frac{\bar{ls}{i-1}}{1 - ls_i} \cdot TNC{i-1} \right]$$

Trong đó:

  • $m_i$ và $q_i$ là các hệ số cấu trúc phản ánh hiệu quả sử dụng vốn đầu tư và mức độ chu chuyển kinh tế (dẫn xuất từ hệ số ICOR và tỷ lệ tiêu dùng/đầu tư).
  • $ĐTNNS_i$: Tổng đầu tư xã hội ngoài ngân sách nhà nước (doanh nghiệp tư nhân, dân cư, FDI).
  • $CNSKĐT_i$: Chi ngân sách không mang tính chất đầu tư (chi thường xuyên, chi quản lý bộ máy, quốc phòng, an ninh).
  • $tns_i$: Tỷ lệ động viên Thu ngân sách trên GDP ($TNS_i / GDP_i$).

Sự đột phá mô hình này thể hiện ở việc tách biệt rành mạch phần tăng trưởng cơ sở khi ngân sách cân bằng và phần gia tăng GDP thực chất do tác động đòn bẩy của nợ công:

$$\Delta GDP_{NC_i} = q_i \cdot (1 - ls_i) \cdot \left[ BC_i - \frac{\bar{ls}{i-1}}{1 - ls_i} \cdot TNC{i-1} \right]$$

Từ phương trình này, luận án chứng minh về mặt toán học rằng việc nợ công có thúc đẩy GDP hay không hoàn toàn phụ thuộc vào việc đại lượng Bội chi ($BC_i$) có vượt qua ngưỡng Sàn bội chi ($SBC_i$) hay không, qua đó chấm dứt cuộc tranh luận vô bổ về các ngưỡng nợ công tĩnh.

Khung phân tích độc đáo

Luận án đã sáng lập một hệ thống công cụ phân tích hoàn toàn mới gồm 14 khái niệm và chỉ số kinh tế vĩ mô:

          Bội chi (BC)
              ^
              |           / Đường Trần bội chi (TBC)
              |          / 
              |         /  TAM GIÁC BỘI CHI
              |        /   KHẢ THI, BỀN VỮNG
              |       /----------------------- Quỹ đạo bội chi (A -> B -> C)
              |      /
              |     /                     / Đường Sàn bội chi (SBC)
              |    /                     /
              |   /                     /
              |  /                     /
              | /                     /
              +----------------------+------------------> Tổng nợ công (TNC)
              0                   TNCTH (Tới hạn)
  1. Sàn bội chi ($SBC_i$): Mức bội chi tối thiểu bắt buộc để nguồn vốn đầu tư từ nợ công bù đắp chính xác nghĩa vụ trả nợ lãi phát sinh từ các khoản nợ cũ: $$SBC_i = \frac{\bar{ls}{i-1}}{1 - ls_i} \cdot TNC{i-1}$$ Khi $BC_i = SBC_i$, tăng trưởng GDP bằng đúng trường hợp không sử dụng nợ công ($GDP_i = GDP_i^{KNC}$). Khi $BC_i > SBC_i$, phần Bội chi vượt sàn ($BCVS_i = BC_i - SBC_i$) sẽ trực tiếp làm gia tăng GDP và Thu ngân sách quốc gia.

  2. Trần huy động vốn của Chính phủ ($THĐV_i$): Giới hạn tối đa mà thị trường tài chính nội địa và quốc tế có thể cung ứng vốn vay cho chính phủ trong một tài khóa nhất định với mức lãi suất an toàn.

  3. Trần bội chi ($TBC_i$): Giới hạn trên của mức bội chi khả thi, được xác định bằng hiệu số giữa Trần huy động vốn và Nghĩa vụ trả nợ gốc bắt buộc trong năm: $$TBC_i = THĐV_i - TNG_i$$

  4. Tam giác bội chi khả thi và bền vững: Vùng không gian hình học trên tọa độ $(TNC, BC)$ được giới hạn bởi trục hoành, đường Trần bội chi ($TBC_i$) và đường Sàn bội chi ($SBC_i$). Mọi quyết định chính sách tài khóa nằm trong không gian tam giác này đều bảo đảm vừa thúc đẩy tăng trưởng vượt bậc, vừa đáp ứng đầy đủ nghĩa vụ trả nợ gốc và nợ lãi.

  5. Tổng nợ công tới hạn ($TNCTH$): Giao điểm giữa đường Trần bội chi và đường Sàn bội chi. Khi Tổng nợ công tiệm cận hoặc vượt qua $TNCTH$, toàn bộ năng lực vay mới của chính phủ chỉ vừa đủ hoặc không đủ để trả nợ gốc và nợ lãi, triệt tiêu hoàn toàn nguồn lực đầu tư phát triển, đẩy nền kinh tế vào trạng thái nguy cơ mất khả năng thanh toán.

  6. Định nghĩa chuẩn xác về Nợ công bền vững: Nợ công được xác định là bền vững khi và chỉ khi nó thỏa mãn đồng thời hai điều kiện tiên quyết: bảo đảm thanh toán đầy đủ, đúng hạn mọi nghĩa vụ nợ lãi và nợ gốc trong mọi tình huống; đồng thời tạo ra quy mô GDP và Thu ngân sách lũy kế cao hơn rõ rệt so với phương án không sử dụng nợ công ($BC_i > SBC_i$ và nằm trong Tam giác bội chi khả thi, bền vững).

Phương pháp nghiên cứu tiên tiến

Thiết kế nghiên cứu

Công trình áp dụng hệ giác cự thế giới quan duy vật biện chứng kết hợp chặt chẽ với phương pháp mô hình hóa cấu trúc nhân quả giải tích và phương pháp phân tích đồ thị toán học. Cách tiếp cận đa cấp độ (Multi-level comparative design) được cấu trúc qua ba tầng không gian:

  • Tầng vĩ mô toàn cầu: Khảo sát quy mô lớn tại 88 quốc gia đại diện cho gần 94% tổng sản lượng kinh tế thế giới.
  • Tầng so sánh đối chuẩn (Benchmarking): Phân tích sâu điển cứu đối với hai siêu cường tài chính đại diện cho hai mô hình quản lý nợ công kinh điển là Mỹ (mô hình phát hành trái phiếu đảo nợ liên tục) và Nhật Bản (mô hình phát hành trái phiếu kết hợp tái cấu trúc linh hoạt dài hạn).
  • Tầng thực chứng quốc gia: Nghiên cứu trường hợp Việt Nam giai đoạn chuyển đổi thể chế kinh tế tài khóa 2006 – 2021.

Quy trình nghiên cứu rigorous

Quy trình nghiên cứu được thực hiện qua các bước chuẩn hóa nghiêm ngặt:

  • Thiết lập sơ đồ tương tác nhân quả vi mô - vĩ mô giữa chính sách tài khóa và sản lượng tiềm năng.
  • Thu thập dữ liệu thứ cấp từ các nguồn chuẩn mực quốc tế: Thống kê Tài chính Quốc tế (IFS - IMF), Cơ sở dữ liệu Triển vọng Kinh tế Thế giới (WEO), Ngân hàng Thế giới (World Bank Data), Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FRED), Bộ Tài chính Nhật Bản (MOF Japan), và Báo cáo quyết toán ngân sách nhà nước của Bộ Tài chính Việt Nam.
  • Kiểm định tính nhất quán và độ tin cậy của chuỗi thời gian, loại bỏ các sai lệch định nghĩa về phạm vi nợ công giữa chuẩn kế toán quốc tế (khu vực công bao gồm NHTW và doanh nghiệp nhà nước) và chuẩn Luật Quản lý nợ công Việt Nam 2017 (chỉ bao gồm nợ chính phủ, nợ được chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa phương).
  • Xây dựng quy trình 5 bước điều hành thực nghiệm bội chi, vay nợ và trả nợ công dành cho các cơ quan hoạch định tài chính công.

Data và phân tích

Dữ liệu của luận án được xử lý bằng các công cụ toán kinh tế và mô phỏng hàm giải tích với các mẫu dữ liệu thực nghiệm:

  • Mẫu khảo sát đại dịch COVID-19 gồm 88 quốc gia, chia thành 3 phân nhóm: 23 quốc gia phát triển thuộc Châu Âu, 17 quốc gia phát triển ngoài Châu Âu, và 48 quốc gia có thu nhập trung bình thuộc Châu Á, Châu Mỹ La tinh và Châu Phi.
  • Chuỗi thời gian phân tích nợ công và tăng trưởng kinh tế của Mỹ và Nhật Bản kéo dài 22 năm (2000 – 2021), với dữ liệu bổ trợ của Nhật Bản kéo dài từ năm 1975 và 1890.
  • Chuỗi số liệu phân tích kiểm chứng tại Việt Nam gồm 15 năm (2006 – 2020), đánh giá cụ thể qua 15 bảng số liệu tổng hợp và 68 hình vẽ trực quan hóa quan hệ nhân quả.

Phát hiện đột phá và implications

Những phát hiện then chốt

  1. Phát hiện 1: Bác bỏ hoàn toàn quan hệ nhân quả nhị biến giữa Tổng nợ công và GDP. Luận án chứng minh GDP không phụ thuộc tuyến tính vào quy mô tổng nợ công đơn lẻ mà chịu sự chi phối trực tiếp của 9 biến số cấu trúc vĩ mô: $GDP_{i-1}$, $ĐTNNS_i$, $CNSKĐT_i$, tỷ lệ thu ngân sách $tns_i$, hệ số $ICOR_i$, mức Bội chi $BC_i$, lãi suất phát hành $ls_i$, Tổng nợ công $TNC_{i-1}$, và lãi suất bình quân $\bar{ls}_{i-1}$. Do đó, việc duy trì một tỷ lệ nợ công cao không đồng nghĩa với suy thoái kinh tế nếu nguồn vốn vay được đưa vào khu vực đầu tư phát triển với hiệu quả $ICOR$ cao.

  2. Phát hiện 2: Giải mã thành công tính an toàn tài chính của Mỹ và Nhật Bản.

    • Đối với Mỹ (Nợ công năm 2021 là 122% GDP): Nước Mỹ áp dụng thuần thục cơ chế "Vay nợ mới trả nợ gốc cũ" thông qua vị thế đồng tiền dự trữ số một toàn cầu của đồng USD và thị trường trái phiếu kho bạc có tính thanh khoản cực cao, giúp Trần huy động vốn ($THĐV$) nằm ở mức rất lớn. Tổng nợ công thực tế vẫn nằm rất xa điểm Tổng nợ công tới hạn ($TNCTH$).
    • Đối với Nhật Bản (Nợ công năm 2021 là 257% GDP): Nợ công của Nhật Bản duy trì an toàn tuyệt đối nhờ ba nhân tố: trên 90% trái phiếu chính phủ do các tổ chức tài chính và người dân trong nước nắm giữ bằng đồng Yên; Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BOJ) thực thi chính sách kiểm soát đường cong lợi suất duy trì lãi suất trái phiếu dài hạn sát mức 0% (và âm); tỷ lệ tiết kiệm tư nhân nội địa khổng lồ liên tục hấp thụ các đợt phát hành nợ công mới.
  3. Phát hiện 3: Lượng hóa các hệ số chi phí và hiệu quả nợ công trong đại dịch COVID-19. Khảo sát thực nghiệm quy mô lớn tại 88 quốc gia đã phát hiện ra hai quy luật định lượng chưa từng được công bố trong y văn:

    • Hệ số chi phí nợ công bình quân: Để khắc phục 1% suy giảm tăng trưởng kinh tế do đại dịch, các quốc gia trên thế giới phải chi nợ công tương đương 2,18% GDP.
    • Hệ số hiệu quả sử dụng nợ công bình quân: Khi các quốc gia giải ngân gói hỗ trợ tài khóa bằng nợ công tương đương 1% GDP, tốc độ tăng trưởng kinh tế sẽ phục hồi trung bình 0,81%.
Nhóm quốc gia Quy mô mẫu Hệ số chi phí nợ công bình quân (% GDP nợ / 1% GDP suy giảm) Hệ số hiệu quả phục hồi kinh tế (% GDP phục hồi / 1% GDP nợ)
Toàn cầu (Tổng hợp) 88 nước 2,18% 0,81%
Phát triển Châu Âu 23 nước 2,42% 0,76%
Phát triển ngoài Châu Âu 17 nước 2,85% 0,92%
Thu nhập trung bình 48 nước 1,84% 0,78%
  1. Phát hiện 4: Nhận diện xung đột cấu trúc trong quản lý nợ công tại Việt Nam. Luận án lần đầu tiên chỉ rõ xung đột nghiêm trọng trong điều hành tài khóa giai đoạn 2016 – 2020: Việc đặt ra trần nợ công cứng nhắc ở mức 65% GDP (và hạ xuống 60% GDP giai đoạn 2021 – 2030) đã vô tình triệt tiêu dư địa mở rộng đầu tư công cho hạ tầng huyết mạch. Năm 2020 – 2021, do rào cản của Luật Quản lý nợ công 2017 (không cho phép sử dụng nợ công cho chi phòng chống dịch và an sinh xã hội khẩn cấp), Việt Nam đã không thể linh hoạt phát hành nợ công quy mô lớn như 88 quốc gia khác để hỗ trợ nền kinh tế, dẫn đến sự suy giảm tốc độ tăng trưởng quý III/2021 (-6,17%).

Implications đa chiều

  • Về mặt học thuật và phương pháp luận: Cung cấp công cụ hàm giải tích hoàn chỉnh giúp giới nghiên cứu chuyển từ các mô hình kinh tế lượng hồi quy tĩnh sang mô phỏng động các kịch bản tài khóa và nợ công.
  • Về mặt chính sách thực tiễn cho Việt Nam: Đề xuất khung chiến lược gồm 4 nhóm giải pháp với 14 chính sách hành động:
    1. Nhóm giải pháp hoàn thiện thể chế nợ công: Trọng tâm là 3 kiến nghị sửa đổi Luật Quản lý nợ công 2017: (i) Bổ sung mục đích vay nợ công để chi phòng chống thiên tai, dịch bệnh và biến cố kinh tế bất khả kháng; (ii) Thay thế trần nợ công cố định bằng cơ chế quản lý động theo Sàn bội chi, Trần bội chi và Tổng nợ công tới hạn; (iii) Hợp pháp hóa quy trình phát hành trái phiếu đảo nợ công khai theo thông lệ quốc tế.
    2. Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư công: Tối ưu hóa hệ số $ICOR$, chuyển dịch cơ cấu vốn vay vào hạ tầng giao thông chiến lược, năng lượng xanh và chuyển đổi số.
    3. Nhóm giải pháp an sinh xã hội và thị trường vốn: Tái cấu trúc thị trường trái phiếu chính phủ nội địa, thu hút nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư và các định chế bảo hiểm.
    4. Nhóm giải pháp giám sát an toàn tài khóa bền vững: Thiết lập hệ thống theo dõi định kỳ hai chỉ số then chốt: Tỷ lệ Bội chi thực tế so với Sàn bội chi ($BC_i / SBC_i$) và Khoảng cách giữa Tổng nợ công với Tổng nợ công tới hạn ($TNCTH - TNC_i$).

Limitations và Future Research

Luận án thẳng thắn thừa nhận 4 giới hạn nghiên cứu:

  1. Trọng tâm mô hình hóa tập trung vào nợ của chính phủ trung ương, chưa tích hợp chi tiết nợ tiềm tàng từ khu vực doanh nghiệp nhà nước (SOEs) và nợ chính quyền địa phương do tỷ trọng thực tế của các cấu phần này tại Việt Nam còn nhỏ.
  2. Mô hình giải tích giả định lãi suất trái phiếu chính phủ ($ls_i$) phản ánh cân bằng thị trường, chưa lượng hóa toàn diện các cú sốc bất đối xứng về tỷ giá hối đoái khi cơ cấu nợ nước ngoài biến động mạnh.
  3. Dữ liệu thực nghiệm của 88 quốc gia về dịch COVID-19 tập trung trong giai đoạn 2020 – 2021, cần tiếp tục được theo dõi kiểm chứng ở giai đoạn hậu đại dịch khi lạm phát toàn cầu tăng cao.
  4. Chưa nghiên cứu sâu về kỹ thuật vi mô trong việc cấu trúc các phiên đấu thầu trái phiếu đa kỳ hạn trên thị trường thứ cấp.

Định hướng nghiên cứu tương lai được gợi mở:

  • Phát triển mô hình tích hợp biến số nợ ngoại tệ và rủi ro tỷ giá vào Hàm GDP có nợ công.
  • Ứng dụng mô hình cân bằng tổng thể ngẫu nhiên động (DSGE) kết hợp Hàm cấu trúc của luận án để dự báo phản ứng tài khóa trước các cú sốc khí hậu.
  • Nghiên cứu cơ chế phát hành "Trái phiếu xanh" (Green Sovereign Bonds) phục vụ quá trình chuyển dịch năng lượng tại các quốc gia đang phát triển.

Tác động và ảnh hưởng

Công trình tạo ra những chuyển biến mang tính bước ngoặt trên các bình diện:

  • Ảnh hưởng học thuật: Đặt nền móng lý thuyết mới cho chuyên ngành Tài chính công, xóa bỏ sự ngộ nhận kéo dài về trần nợ công bất biến, mở ra tiềm năng trích dẫn lớn trong các nghiên cứu chuyên sâu về quản trị nợ có chủ quyền.
  • Tác động chính sách tài chính quốc gia: Cung cấp luận cứ khoa học trực tiếp cho Ủy ban Tài chính – Ngân sách của Quốc hội, Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong việc rà soát, đánh giá chiến lược vay - trả nợ công trung hạn 2021 – 2025 và sửa đổi Luật Quản lý nợ công.
  • Ý nghĩa kinh tế - xã hội: Giúp giải phóng hàng trăm nghìn tỷ đồng nguồn lực tài khóa cho đầu tư kết cấu hạ tầng then chốt mà không vi phạm nguyên tắc an toàn tài chính quốc gia, thúc đẩy mục tiêu đưa Việt Nam trở thành nước có thu nhập cao vào năm 2045.

Đối tượng hưởng lợi

  • Nghiên cứu sinh và Giới học thuật kinh tế: Thụ hưởng khung phân tích toán học mới, phương pháp xác định Sàn bội chi và thuật toán xác định Tổng nợ công tới hạn để phát triển các đề tài nghiên cứu tiếp nối.
  • Cơ quan quản lý nợ công (Cục Quản lý Nợ và Tài chính Đối ngoại - Bộ Tài chính): Sử dụng Quy trình 5 bước điều hành bội chi để xây dựng kế hoạch vay nợ, tối ưu hóa danh mục kỳ hạn phát hành trái phiếu và chủ động kiểm soát rủi ro đảo nợ.
  • Các nhà hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô và Đại biểu Quốc hội: Có góc nhìn khoa học khách quan để thẩm tra các chỉ tiêu tài khóa, không bị ràng buộc bởi các mức trần tâm lý thiếu căn cứ, từ đó phê duyệt các dự án đầu tư công quy mô lớn một cách tự tin và chuẩn xác.

Câu hỏi chuyên sâu

  1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì?
    Trả lời: Đó là việc thiết lập Hàm GDP và Hàm Thu ngân sách có sử dụng nợ công qua 9 biến số cấu trúc, chứng minh về mặt giải tích toán học rằng quan hệ giữa nợ công và tăng trưởng phụ thuộc vào đại lượng Bội chi vượt sàn ($BCVS_i = BC_i - SBC_i$), qua đó bác bỏ lý thuyết về "ngưỡng nợ công tối ưu cố định".

  2. Đổi mới phương pháp luận của luận án so với các nghiên cứu tiền nhiệm?
    Trả lời: Thay vì sử dụng phương pháp hồi quy chuỗi thời gian hay hồi quy ngưỡng nhị biến đơn thuần ($TNC \to GDP$) như Reinhart-Rogoff (2010) hay các tác giả tại Việt Nam trước đây, luận án sử dụng phương pháp mô hình hóa cấu trúc nhân quả giải tích kết hợp hệ tọa độ $(TNC, BC)$ để định vị Tam giác bội chi khả thi và bền vững.

  3. Phát hiện thực nghiệm gây bất ngờ lớn nhất của luận án?
    Trả lời: Tỷ lệ nợ công 122% GDP của Mỹ và 257% GDP của Nhật Bản thực chất vẫn nằm rất an toàn phía dưới đường Tổng nợ công tới hạn ($TNCTH$) của chính họ; đồng thời việc chi nợ công trung bình 2,18% GDP chỉ nhằm khắc phục 1% suy giảm kinh tế trong khủng hoảng quy mô toàn cầu.

  4. Luận án có cung cấp quy trình điều hành cụ thể mang tính khả thi cao không?
    Trả lời: Có, luận án cung cấp chi tiết "Quy trình 5 bước điều hành bội chi, vay và trả nợ của chính phủ" giúp các cơ quan tài chính xác định chính xác Trần huy động vốn, Sàn bội chi, Trần bội chi và lựa chọn Quỹ đạo bội chi tối ưu hàng năm.

  5. Chương trình nghiên cứu dài hạn trong 10 năm tới được phác thảo thế nào?
    Trả lời: Tập trung vào việc tích hợp rủi ro nợ ngoại tệ, phát triển thuật toán trí tuệ nhân tạo (AI) trong việc tự động tối ưu hóa danh mục kỳ hạn phát hành trái phiếu chính phủ theo thời gian thực và đánh giá bền vững tài khóa dưới tác động của biến đổi khí hậu.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của NCS. Nguyễn Thiện Đức đã hoàn thành xuất sắc sứ mệnh khoa học thông qua các cống hiến nền tảng:

  1. Xây dựng hoàn chỉnh Hàm Tổng sản phẩm nội địa GDP và Hàm Thu ngân sách có sử dụng nợ công.
  2. Khai sinh hệ thống 14 công cụ quản trị tài chính công mang tính cách mạng: Sàn bội chi, Trần bội chi, Tam giác bội chi khả thi, bền vững và Tổng nợ công tới hạn.
  3. Giải quyết triệt để nghịch lý nợ công cao nhưng an toàn tuyệt đối tại Mỹ và Nhật Bản, rút ra 6 bài học kinh nghiệm sâu sắc cho các nền kinh tế đang phát triển.
  4. Lượng hóa quy chuẩn chi phí (2,18% GDP) và hiệu quả (0,81%) sử dụng nợ công trong việc ứng phó với khủng hoảng toàn cầu thông qua dữ liệu thực chứng từ 88 quốc gia.
  5. Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp với 14 khuyến nghị hành động, đặc biệt là 3 định hướng sửa đổi Luật Quản lý nợ công 2017 nhằm giải phóng nguồn lực phát triển cho Việt Nam giai đoạn 2022 – 2030.

Công trình không chỉ là một đóng góp học thuật kiệt xuất cho lý luận tài chính công đương đại mà còn là cẩm nang thực tiễn vô giá cho công cuộc hiện đại hóa quản trị nợ công quốc gia trong kỷ nguyên mới.