PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài: Kể từ khi công trình cao tầng đầu tiên xuất hiện trên thế giới (Home Insurance Building ở Chicago được xây dựng năm 1883-1885) cho đến nay, các công trình cao tầng và siêu cao tầng đã đua nhau phát triển tại nhiều nước trên khắp các châu lục. Công trình xây dựng cao tầng đã thể hiện sự ưu việt trong chức năng tạo dựng bộ mặt và các điểm nhấn đô thị; thể hiện sức chứa đựng các hoạt động chức năng khác nhau của con người; thể hiện sức sáng tạo kiến trúc, sự tiến bộ về công nghệ xây dựng, về nghiên cứu và sử dụng vật liệu xây dựng mới, cũng như hiệu quả sử dụng đất xây dựng. Ở nước ta, từ khi bắt đầu thực hiện chính sách đổi mới và mở cửa, tại các đô thị lớn, đặc biệt là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, nhà cao tầng đã xuất hiện và phát triển đáng kể cả về số lượng lẫn chất lượng.
Qua nhiều cuộc hội thảo, khái niệm “Công trình xây dựng cao tầng” đã dần được làm rõ, đó là các công trình xây dựng có độ cao từ 9 tầng trở lên và “Công trình siêu cao” hay “chọc trời” là những tòa nhà có độ cao lớn, với 30-40 tầng trở lên. Các công trình cao tầng thường có các công năng khách sạn, cao ốc văn phòng, nhà ở chung cư cao tầng, trung tâm thương mại hay các cao ốc có nhiều chức năng (cao ốc đa năng). Qua điều tra khảo sát, từ năm 1990 đến 1998, Hà Nội có khoảng 88 và thành phố Hồ Chí Minh có khoảng 113 công trình cao tầng đã được xây dựng. Từ 1999 đến nay, tốc độ xây dựng nhà cao tầng đã gia tăng nhanh chóng - ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, hàng trăm dự án nhà cao tầng đã và đang được triển khai xây dựng cùng với hàng chục dự án khu đô thị mới.
Giai đoạn đầu của thời kỳ đổi mới, đa phần các công trình cao tầng do nước ngoài đầu tư, xây dựng, được thiết kế bởi tư vấn nước ngoài, thì cho đến năm 2000, gần 70% số nhà cao tầng đã được xây dựng từ nguồn vốn trong nước. LÊ MINH ĐỨC – LỚP KTXD K19 2 Quá trình xây dựng và sử dụng nhà cao tầng tại các đô thị ở nước ta hiện nay còn tồn tại nhiều vấn đề bất cập, từ khâu quy hoạch, thiết kế, thi công, xây dựng cho đến quản lý vận hành. Những năm gần đây, tư vấn xây dựng và các nhà thầu trong nước đã trưởng thành nhiều trong việc nắm bắt và làm chủ các công nghệ thiết kế, xây dựng nhà cao tầng. Nhiều phương pháp thi công cũng như công nghệ xây dựng tiên tiến (công nghệ Top – Down) đã được các nhà thầu áp dụng có hiệu quả như: - Công trình tòa nhà phức hợp Kumho Asiana Plaza có 03 khối tháp từ 21 đến 32 tầng, 3 hầm gồm khối văn phòng, thương mại, khối khách sạn và khối căn hộ cho thuê đã đưa vào sử dụng; - Tòa nhà Bitexco Financial Tower có 3 hầm và 68 tầng tổng chiều cao 269m đã đưa vào sử dụng khối đế là khu thương mại các tầng còn lại là văn phòng.
- Tòa nhà Vincom Center có 6 hầm và 26 tầng đã đưa vào sử dụng, khu thương mại gồm 3 tầng hầm và 3 tầng, từng 5 đến tầng 20 là khối văn phòng, các tầng còn lại là căn hộ cao cấp. LÊ MINH ĐỨC – LỚP KTXD K19 3 Tuy nhiên, một điều cần nhận thức đúng đắn về năng lực quản lý nhà nước hoạt động xây dựng công trình cao tầng của cả nước nói chung và thành phố Hồ Chí Minh nói riêng vẫn còn nhiều hạn chế; ý thức chấp hành các quy định của pháp luật của một số chủ đầu tư, doanh nghiệp còn chưa nghiêm túc nên đã để xảy ra những sự cố hoặc chất lượng chưa đạt yêu cầu, vẫn còn những khiếm khuyết trong công trình gây bức xúc trong dư luận xã hội, cụ thể như: Công trình tòa nhà Pacific tại quận 1 thành phố Hồ Chí Minh làm sập đổ trụ sở làm việc Viện Khoa học Xã hội miền Nam nguyên nhân do thi công tường vây bê tông không đạt chất lượng, làm trôi tầng đất yếu ở xung quanh; cao ốc Residence tại quận 1, thành phố Hồ Chí Minh có tường vây bằng cọc không đủ độ sâu làm bùn xung quanh trồi vào móng làm nghiêng chung cư số 5 Nguyễn Siêu; thi công phần hầm ngầm của tòa nhà B2 dự án Vĩnh Trung Plazza (tổ 14, P.Thanh Khê, TP Đà Nẵng) đã gây ra tình trạng sụt lở đất làm hàng loạt nhà thấp tầng nằm sát cạnh công trình bị nghiêng… tất cả các nguyên nhân sự cố đều từ các công trình do tư nhân làm chủ đầu tư và có nguyên nhân từ sự buông lỏng trách nhiệm hoặc cố ý làm trái các quy định của pháp luật hiện hành của chủ đầu tư và của các đơn vị, cá nhân tham gia thi công và tập trung ở phần ngầm của công trình. Thực hiện chức năng quản lý nhà nước của mình, trong những năm qua Bộ Xây dựng đã quan tâm đầu tư cho nghiên cứu và phát triển lĩnh vực xây dựng nhà cao tầng: Các dự án điều tra khảo sát đã phân tích hiện trạng và xác định hướng xây dựng nhà cao tầng tại các đô thị, đặc biệt là tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh; các giải pháp thiết kế và thi công nền móng và việc tổng kết các biện pháp thi công tầng hầm nhà cao tầng đã được thực hiện; qua triển khai nghiên cứu về nhà cao tầng, viện khoa học và công nghệ xây dựng đã ban hành nhiều tiêu chuẩn xây dựng về nhà cao tầng; nhiều đề tài khoa học và công nghệ cấp nhà nước và cấp bộ đã và đang tập trung nghiên cứu về các vấn đề: tiêu chí đánh giá chất lượng nhà cao tầng, tiêu chuẩn thiết kế nhà ở LÊ MINH ĐỨC – LỚP KTXD K19 4 căn hộ cao tầng, các giải pháp thiết kế nhà cao tầng theo quan điểm tiết kiệm năng lượng, tiêu chuẩn phòng chống cháy cho nhà cao tầng đảm bảo hiệu suất năng lượng, quy chuẩn xây dựng các công trình cao tầng có hiệu suất năng lượng, các giải pháp cấp thoát nước và thu gom rác sinh hoạt trong nhà cao tầng. Những kết quả nghiên cứu này sẽ đóng góp vào việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn xây dựng nhà cao tầng - hệ thống văn bản pháp quy cần thiết để quản lý công tác thiết kế, xây dựng nhà cao tầng đáp ứng nhu cầu đang gia tăng nhanh chóng tại các đô thị.
Thực trạng của cán bộ quản lý trật tự xây dựng đô thị trong giai đoạn hiện nay vẫn chưa được chuyên môn hóa, chưa được tổ chức theo một mô hình nhất định; Thanh tra Xây dựng vẫn còn đang thí điểm, dần được hoàn thiện trên 2 năm qua; các chế độ chính sách cho cán bộ công chức chưa đảm bảo, nên hiệu quả của công tác quản lý trật tự xây dựng trên địa bàn chưa đáp ứng được với yêu cầu đổi mới của thành phố, nhất là giai đoạn hội nhập kinh tế thế giới của đất nước trong thời gian tới. Từ tình hình trên dẫn đến việc nghiên cứu nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về hoạt động xây dựng công trình cao tầng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh và dần tiến tới quản lý chuyên nghiệp là điều hết sức cần thiết trong thời kỳ hiện nay. Vì vậy, tác giả chọn đề tài “Quản lý nhà nƣớc về hoạt động xây dựng công trình cao tầng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh” làm đề tài luận văn thạc sỹ để nghiên cứu và giải quyết phần nào những vấn đề trên. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài: Trong thời gian qua đã có nhiều đề tài nghiên cứu về công trình xây dựng cao tầng; như trên đã nêu, Viện khoa học và công nghệ xây dựng đã ban hành nhiều tiêu chuẩn xây dựng về nhà cao tầng; nhiều đề tài khoa học và công nghệ cấp nhà nước và cấp bộ đã và đang tập trung nghiên cứu về: Tiêu chí đánh giá chất lượng nhà cao tầng, tiêu chuẩn thiết kế nhà ở căn hộ cao LÊ MINH ĐỨC – LỚP KTXD K19 5 tầng, các giải pháp thiết kế nhà cao tầng theo quan điểm tiết kiệm năng lượng….
Ngoài ra, các cấp Nhà nước cũng đã nghiên cứu để ban hành các văn bản quy phạm pháp luật để điều tiết hoạt động xây dựng công trình trong xã hội như: - Luật Xây dựng năm 2003; Luật nhà ở năm 2005; Luật Đấu thầu năm 2005…; - Các Nghị định hướng dẫn như: Nghị định số 209/2004/NĐ-CP ngày 16 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ về Quản lý chất lượng công trình xây dựng; Nghị định số 49/2008/NĐ-CP ngày 18 tháng 4 năm 2008 sửa đổi bổ sung Nghị định số 209/2004/NĐ-CP; Nghị định số 12/2009/NĐ-CP ngày 10 tháng 2 năm 2009 của Chính phủ về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình; Nghị định số 23/2009/NĐ-CP ngày 27 tháng 2 năm 2009 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động xây dựng; kinh doanh bất động sản; khai thác, sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng; quản lý công trình hạ tầng kỹ thuật; quản lý phát triển nhà và công sở.; - Các Thông tư liên quan hướng dẫn Nghị định của các Bộ ngành. Tuy nhiên, nếu nhìn một cách hệ thống, chúng ta thấy ở các bài viết kể trên, các văn bản quy phạm pháp luật chỉ tiếp cận ở một khía cạnh của hoạt động quản lý nhà nước chung về các công trình xây dựng. Hơn nữa, cho đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu đề tài này trong khuôn khổ như một công trình khoa học hoặc như một Luận văn thạc sỹ. Bằng kiến thức đã tích lũy được và kinh nghiệm thực tế, tôi tin tưởng rằng việc nghiên cứu thành công đề tài này là việc làm có ý nghĩa và mang tính thời sự.
Mục đích nghiên cứu: Đề tài có mục đích nhận diện một cách toàn diện, đầy đủ về những hạn chế, vướng mắc trong quản lý nhà nước về hoạt động xây dựng công trình cao tầng. Từ đó kiến nghị những giải pháp tăng cường năng lực quản lý và chuyên nghiệp hóa của cơ quan quản lý nhà nước trong công tác xây dựng công trình cao tầng tại Thành phố Hồ Chí Minh. LÊ MINH ĐỨC – LỚP KTXD K19 6 4.