phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận quản lý nhà nƣớc về thƣơng mại. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý nhà nƣớc về thƣơng mại trên địa bàn huyện Đại Lộc. Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nƣớc về thƣơng mại trên địa bàn huyện Đại Lộc. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Quản lý nhà nƣớc về thƣơng mại nói riêng và quản lý nhà nƣớc về kinh tế nói chung hiện có một số công trình nghiên cứu đề cập với những góc độ và mục đích khác nhau.
Đó là: - Luận văn thạc sĩ kinh tế của tác giả Nguyễn Thị Hoàng Lan, (2011) về phát triển ngành dịch vụ thương mại trên địa bàn thành phố Quảng Ngãi. Nội dung của bản luận văn nghiên cứu lý luận về phát triển ngành dịch vụ thƣơng mại và thực trạng phát triển ngành dịch vụ thƣơng mại trên địa bàn thành phố Quảng Ngãi; từ đó đánh giá những thành tựu và hạn chế trong quá trình phát triển thƣơng mại, đề xuất các giải pháp khắc phục hạn chế trong quá trình phát triển thƣơng mại của thành phố Quảng Ngãi trong đó có những kiến nghị đối với chính quyền địa phƣơng trong công tác quản lý nhà nƣớc đối với ngành dịch vụ thƣơng mại. - Đề tài cấp tỉnh/ thành phố của TS. Đỗ Ngọc Mỹ, (2010) về phát triển thương mại trên địa bàn thành phố Đà Nẵng đến năm 2020.
Đề tài đã tổng kết những vấn đề lý luận, kinh nghiệm phát triển thƣơng mại của một địa phƣơng gắn liền với mô hình phát triển kinh tế của thành phố Đà Nẵng. Phân tích, đánh giá thực trạng các hoạt động thƣơng mại trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, xây dựng các luận cứ làm cơ sở để hoạch định chính sách. Đặc biệt đề tài đi sâu nhận dạng vị trí, vai trò và năng lực cạnh tranh của các hoạt động thƣơng mại trên địa bàn thành phố Đà Nẵng trong mối quan hệ với vùng kinh tế trọng điểm miền Trung và Tây Nguyên. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất các giải pháp phát triển thƣơng mại trên địa bàn thành phố Đà Nẵng theo định hƣớng xây dựng Đà Nẵng trở thành một trong những trung tâm phân phối của khu vực.
- Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Mạnh Hoàng (2008), về hoàn thiện quản lý nhà nước về thương mại hàng hóa trên địa bàn thành phố Hà Nội. Với phạm vi nghiên cứu là địa bàn thành phố Hà Nội, trong đó nội dung 6 chuyên sâu là thƣơng mại hàng hóa của địa bàn tầm vóc thủ đô, kết hợp nghiên cứu những kinh nghiệm quản lý thƣơng mại hàng hóa của một số nƣớc Trung Quốc, Nhật Bản từ đó đƣa ra các giải pháp để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nƣớc về thƣơng mại hàng hóa trên địa bàn Hà Nội. Từ những nghiên cứu trên là cơ sở để vận dụng vào nghiên cứu công tác quản lý nhà nƣớc trên địa bàn huyện Đại Lộc. Có thể nói, hiện chƣa có công trình nghiên cứu nào nghiên cứu chuyên sâu về lĩnh vực quản lý nhà nƣớc về thƣơng mại trên địa bàn huyện.
Một số nội dung nhƣ: Quy hoạch phát triển thương mại tỉnh Quảng Nam đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2025, UBND tỉnh Quảng Nam, năm 2011, đƣa ra các quan điểm, mục tiêu, định hƣớng phát triển thƣơng mại tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2011-2015 và giai đoạn 2016-2020. Trong bản quy hoạch định hƣớng thực hiện quy hoạch phát triển ngành thƣơng mại Quảng Nam theo không gian, theo các thành phần kinh tế; quy hoạch phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế, nguồn vốn đầu tƣ. Mặt khác, Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của huyện Đại Lộc đến năm 2015, định hướng đến năm 2020, UBND huyện Đại Lộc, năm 2011 đƣa ra các mục tiêu tổng quát về phát triển kinh tế - xã hội của Đại Lộc trên cơ sở đánh giá tình hình kết quả đạt đƣợc trong lĩnh vực kinh tế - xã hội và phƣơng hƣớng nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội nói chung và lĩnh vực thƣơng mại – dịch vụ nói riêng giai đoạn 2011 - 2015 và 2015 – 2020. Đồng thời, Nghị quyết Đảng bộ huyện và nghị quyết HĐND huyện chỉ mới đề cập tới ở cấp độ định hƣớng chung cho sự phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn trong đó có hoạt động thƣơng mại – dịch vụ bằng việc đề ra các mục tiêu, chỉ tiêu chủ yếu mà chƣa chú trọng phân tích thực trạng và đề xuất các giải pháp để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nƣớc về thƣơng mại trên địa bàn.
7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ THƢƠNG MẠI 1. KHÁI QUÁT VỀ THƢƠNG MẠI 1. Khái niệm thƣơng mại Có rất nhiều nghiên cứu khác nhau về thƣơng mại. Thuật ngữ thƣơng mại, tiếng Anh là “Commerce”, ngoài ra còn có thuật ngữ khác là Trade, tiếng Pháp “Commerce”, tiếng Latinh “Commercium”,.
về cơ bản các từ này đều đƣợc hiểu là buôn bán hàng hóa với mục đích sinh lợi. Luật Thƣơng mại của nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ghi: Hoạt động thƣơng mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi bao gồm: mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tƣ, xúc tiến thƣơng mại và các hoạt động sinh lợi khác. Thƣơng mại là một phạm trù kinh tế ra đời và tồn tại gắn liền với sự ra đời và tồn tại của kinh tế hàng hóa. Thƣơng mại là hình thức phát triển cao của trao đổi hàng hóa và lƣu thông hàng hóa.
Thƣơng mại xuất hiện khi lƣu thông hàng hóa trở thành chức năng độc lập không phụ thuộc vào sản xuất. Theo nghĩa bao trùm nhất, thƣơng mại là tổng hợp mọi hành vi mua bán của xã hội, tất cả các hành vi, những hoạt động đầu tƣ để đáp ứng nhu cầu nào đó của xã hội nhằm mục đích sinh lời đều là hoạt động thƣơng mại. Nhƣ vậy khái niệm thƣơng mại đƣợc hiểu theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Theo nghĩa rộng, thƣơng mại là toàn bộ các hoạt động kinh doanh trên thị trƣờng.
Thƣơng mại đồng nghĩa với kinh doanh đƣợc hiểu nhƣ là hoạt động kinh tế nhằm mục tiêu sinh lợi của các chủ thể kinh doanh trên thị trƣờng. 8 Theo nghĩa hẹp, thƣơng mại là quá trình mua bán hàng hóa, dịch vụ trên thị trƣờng, là lĩnh vực phân phối và lƣu thông hàng hóa. Nếu hoạt động trao đổi hàng hóa (kinh doanh hàng hóa) vƣợt ra khỏi biên giới quốc gia thì ngƣời ta gọi đó là ngoại thƣơng (kinh tế quốc tế). Trong lĩnh vực thƣơng mại, ngoài ngành phân phối là ngành chuyên cung cấp các dịch vụ mua bán hàng hóa hữu hình gồm bán buôn và bán lẻ, còn có các ngành thƣơng mại dịch vụ chuyên đảm nhận việc cung ứng dịch vụ cho thị trƣờng thông qua các hoạt động thƣơng mại vì mục đích lợi nhuận (hiện nay theo phân loại của WTO, lĩnh vực thƣơng mại dịch vụ đƣợc phân thành 12 ngành, trong đó có 155 tiểu ngành dịch vụ khác nhau).
Nhƣ vậy, có thể hiểu một cách khái quát thƣơng mại là một ngành kinh tế độc lập mà hoạt động của nó là mua, bán hàng hóa và dịch vụ. Trong ngành thƣơng mại có 3 lĩnh vực chính, đó là thƣơng mại hàng hóa, thƣơng mại dịch vụ và thƣơng mại đầu tƣ. Trong hoạt động thƣơng mại có các hoạt động hỗ trợ nhƣ xúc tiến thƣơng mại, dịch vụ thƣơng mại. Phân loại hoạt động thƣơng mại a.
Theo phạm vi hoạt động thương mại Theo phạm vi hoạt động thƣơng mại, thƣơng mại đƣợc phân thành thƣơng mại nội địa (nội thƣơng) và thƣơng mại quốc tế (ngoại thƣơng). Thƣơng mại nội địa có thể đƣợc phân thành: Thƣơng mại thành thị và thƣơng mại nông thôn, thƣơng mại vùng đặc biệt, thƣơng mại biên giới, thƣơng mại vùng sâu, vùng xa,. Thƣơng mại nội địa phản ánh những quan hệ kinh tế thị trƣờng của các chủ thể kinh tế của một quốc gia. Các hoạt động thƣơng mại nội địa về cơ bản diễn ra trong phạm vi biên giới của một quốc gia.
Thƣơng mại quốc tế bao gồm việc mua bán hàng hóa và dịch vụ qua biên giới quốc gia có thể ở phạm vi toàn cầu (WTO), có thể ở phạm vi khu 9 vực (EU, ASEAN .) hoặc thƣơng mại song phƣơng giữa 2 quốc gia. Thƣơng mại quốc tế phản ánh những mối quan hệ kinh tế thƣơng mại giữa các chủ thể kinh tế của các quốc gia với nhau. Chúng tuân thủ những luật lệ và những thông lệ buôn bán toàn cầu, khu vực và các hiệp định thƣơng mại ký kết song phƣơng giữa các quốc gia. Trong hoạt động ngoại thƣơng, xuất khẩu là việc bán hàng hóa và dịch vụ cho nƣớc ngoài và nhập khẩu là việc mua hàng hóa và dịch vụ của nƣớc ngoài.
Ngoại thƣơng là hoạt động kinh tế đã có từ rất lâu, nhƣng ngoại thƣơng chỉ thực sự phát triển trong thời đại Tƣ bản chủ nghĩa. Ngày nay toàn cầu hóa kinh tế thế giới và tự do hóa thƣơng mại là một xu hƣớng phổ biến, thì sự phát triển ngoại thƣơng hết sức mạnh mẽ. Ngoại thƣơng không chỉ có ý nghĩa đơn thuần là sự trao đổi buôn bán với bên ngoài mà thực chất cùng với các quan hệ kinh tế đối ngoại khác ngoại thƣơng tham gia vào phân công lao động quốc tế. Thƣơng mại nội địa diễn ra trên thị trƣờng nội địa, ngoại thƣơng là hoạt động thƣơng mại diễn ra trên thị trƣờng quốc tế.
Thị trƣờng thế giới và thị trƣờng nội địa là những thị trƣờng khác nhau vì vậy thƣơng mại nội địa và ngoại thƣơng đƣợc thực hiện theo những hình thức và phƣơng pháp hoàn toàn không giống nhau. Theo các khâu của quá trình lưu thông Theo các khâu của quá trình lƣu thông, thƣơng mại đƣợc phân thành thƣơng mại bán buôn và thƣơng mại bán lẻ. Thƣơng mại bán buôn: chủ yếu xảy ra trong lĩnh vực buôn bán các sản phẩm vật thể. Chủ thể của hoạt động thƣơng mại bán buôn là những nhà sản xuất và thƣơng gia.
Chúng phản ánh các mối quan hệ kinh tế thƣơng mại giữa những nhà sản xuất, giữa nhà sản xuất với thƣơng gia và giữa những ngƣời 10 thƣơng gia với nhau. Khi hoàn thành các hoạt động mua bán buôn, hàng hóa vẫn chƣa kết thúc quá trình lƣu thông, chúng nằm lại trong khâu sản xuất để sau khi kết thúc sản xuất lại tiếp tục quay trở lại lƣu thông hoặc vẫn nằm trong lƣu thông để chờ bán cho ngƣời tiêu dùng cuối cùng. Thƣơng mại bán lẻ: phản ánh mối quan hệ buôn bán hàng hóa và các dịch vụ giữa những nhà sản xuất, nhà cung ứng dịch vụ hoặc các thƣơng gia với bên kia là những ngƣời tiêu dùng cuối cùng.