Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ TẠO VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN NÔNG THÔN 1. Lý luận chung về tạo việc làm cho thanh niên nông thôn 1. Việc làm “Việc làm” là một thuật ngữ được sử dụng nhiều trong học thuật và cả trong đời sống hằng ngày. Đứng ở mỗi góc độ khác nhau, sẽ có những cách nhìn nhận khác nhau về “việc làm”.
Theo quan điểm của Các Mác: Việc làm là phạm trù để chỉ trạng thái phù hợp giữa sức lao động và những điều kiện cần thiết (vốn, kỹ thuật, công nghệ…) để sử dụng sức lao động đó. Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), khái niệm việc làm chỉ đề cập đến trong mối quan hệ với lực lượng lao động. Khi đó, việc làm được phân thành hai loại: Có trả công (những người làm thuê, học việc.) và không được trả công nhưng vẫn có thu nhập (những người như giới chủ làm kinh tế gia đình. Vì vậy, “Việc làm có thể được định nghĩa như một tình trạng trong đó có sự trả công bằng tiền hoặc hiện vật hoặc có thu nhập, do có một sự tham gia tích cực, có tính chất cá nhân và trực tiếp vào nỗ lực sản xuất” 12, tr.
Theo khoản 1 điều 9 Bộ Luật Lao động Việt Nam (2012), thì “việc làm” được xác định như sau: Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm. Tạo việc làm cho thanh niên - Thanh niên là gì? Trong lịch sử đã diễn ra nhiều cuộc tranh luận sôi nổi giữa các nhà khoa học về định nghĩa thanh niên. Có thể tiếp cận đối tượng này dưới nhiều góc độ khác nhau: Triết học, Tâm lý hoc, xã hội học, khoa học thể chất… 7 Theo Từ điển Tiếng Việt, NXB Văn hóa Thông tin, năm 1999: “Thanh niên là người còn trẻ, đang ở độ tuổi trưởng thành”. Khái niệm này xác định thanh niên dưới 02 góc độ: sinh học (độ tuổi) và tâm lý, giáo dục (sự trưởng thành), không phân biệt thành phần dân tộc, tôn giáo, vùng miền.
Dưới góc độ pháp luật, theo điều 1, Luật Thanh niên Việt Nam năm 2005: “Thanh niên là công dân Việt Nam từ mười sáu tuổi đến ba mươi tuổi”. - Khái niệm tạo việc làm Việc làm là phạm trù để chỉ trạng thái phù hợp giữa sức lao động và những điều kiện cần thiết (vốn, tư liệu sản xuất, công nghệ.) để sử dụng sức lao động đó. Tạo việc làm là quá trình tạo ra số lượng và chất lượng tư liệu sản xuất, số lượng và chất lượng sức lao động và các điều kiện kinh tế - xã hội cần thiết khác để kết hợp tư liệu sản xuất và sức lao động. Rõ ràng tạo được việc làm cho người lao động hoặc tạo nhiều việc làm luôn gắn với quá trình phát triển kinh tế - xã hội, phát huy sức mạnh tiềm năng của con người, phát huy trí tuệ người lao động để tạo ra nhiều của cải cho xã hội.
Chính vì vậy, Văn kiện Đại hội X của Đảng đã nêu rõ “Giải quyết việc làm là yếu tố quyết định để phát huy nhân tố con người, ổn định và phát triển kinh tế, làm lành mạnh xã hội, đáp ứng nguyện vọng chính đáng và yêu cầu bức xúc của nhân dân”. Vấn đề tạo việc làm cho người lao động là cần thiết, không những mang tầm quốc gia mà vượt ra bên ngoài khu vực và quốc tế. Tuỳ thuộc vào các cách thức tiếp cận và mục đích nghiên cứu khác nhau mà người ta đưa ra khái niệm về tạo việc làm. - Khái niệm tạo việc làm cho thanh niên Tạo việc làm cho thanh niên là một quá trình tạo ra môi trường hình thành các chỗ làm việc và đào tạo lao động thanh niên phù hợp với chỗ làm việc để có các việc làm chất lượng, đảm bảo nhu cầu của cả lao động thanh niên và người sử dụng lao động, đồng thời đáp ứng được mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
8 Với khái niệm trên, tạo việc làm không chỉ là nhiệm vụ, chức năng của Nhà nước mà còn là trách nhiệm của xã hội, của các cơ quan doanh nghiệp và ngay bản thân người lao động. Tạo việc làm cho thanh niên là tổng hợp những biện pháp, trong đó: + Là các biện pháp tạo ra chỗ làm việc mới để thu hút lao động trẻ vào làm việc. + Là quá trình đào tạo cho lao động trẻ có kỹ năng phù hợp với nhu cầu của thị trường lao động. + Là các biện pháp có tính hỗ trợ thanh niên tự tạo ra việc làm cho bản thân, gia đình và xã hội.
Đặc điểm thanh niên nông thôn (TNNT) tại tỉnh Quảng Nam Để tạo việc làm cho TNNT cần nghiên cứu những nét đặc trưng của xu hướng việc làm và đặc điểm thị trường lao động TNNT. Thứ nhất, xu hướng việc làm TNNT: + Xu hướng giảm việc làm của lao động có trình độ thấp, đặc biệt là trong nông nghiệp và những ngành, nghề truyền thống đang mất dần do áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ mới. + Xu hướng tăng việc làm cho các nhu cầu xây dựng kết cấu hạ tầng, phát triển các khu công nghiệp, khu chế xuất, vùng kinh tế động lực… Thứ hai, đặc điểm thị trường lao động TNNT: + Cung lao động rất lớn trong khi cầu lao động lại rất chọn lọc. + Thiếu sự chuẩn bị đào tạo nghề nghiệp, tỷ lệ được đào tạo thường rất nhỏ, đa số TNNT chưa có điều kiện tiếp cận các cơ hội đào tạo nghề nghiệp trước khi bước vào thị trường lao động.
+ Đối với những người được đào tạo, cũng gặp phải vấn đề chưa ăn khớp, hoặc bất cập của hệ thống đào tạo với yêu cầu của thị trường lao động, nên khả năng hội nhập thị trường lao động của TNNT cũng gặp khó khăn. 9 + TNNT chưa đủ thời gian để tích luỹ kinh nghiệm, khi vào thị trường lao động họ phải cạnh tranh quyết liệt với lao động ở độ tuổi trưởng thành, có nhiều kinh nghiệm hơn trong nghề nghiệp. Do áp lực của kinh tế thị trường, người sử dụng lao động yêu cầu lao động TNNT phải có trình độ nghề nghiệp, kinh nghiệm làm việc, trong khi đáp ứng của lao động TNNT đối với yêu cầu này còn hạn chế, mặt khác khi tuyển lao động TNNT, người sử dụng lao động cũng phải cân nhắc tính hiệu quả, vì phải tăng chi phí đào tạo lại, đào tạo bổ sung kỹ năng mới cho họ phù hợp với công nghệ đang ứng dụng. Vai trò của tạo việc làm cho thanh niên nông thôn Tạo việc làm là một trong những chính sách xã hội cơ bản của mọi quốc gia nhằm góp phần đảm bảo an toàn, ổn định và phát triển kinh tế - xã hội.
Chính sách việc làm vừa có ý nghĩa về mặt kinh tế, vừa có ý nghĩa về mặt chính trị - xã hội cũng như giáo dục con người. Việc hoạch định và thực thi không tốt chính sách việc làm sẽ dẫn đến những hậu quả, những thiệt hại trực tiếp cả về kinh tế, chính trị và xã hội cho đất nước. Trước hết, tạo việc làm đảm bảo việc làm cho TNNT tham gia hoạt động kinh tế, kết nối họ vào các lĩnh vực sản xuất và dịch vụ, tạo khả năng cho họ nhận được những khoản thu nhập thiết yếu để tái sản xuất sức lao động của chính bản thân mình, cũng như nuôi sống gia đình mình. Tạo nhiều việc làm tạo điều kiện cho TNNT dễ dàng lựa chọn công việc phù hợp, tạo năng suất cao hơn và có cơ hội nhận được thu nhập cao hơn.
Thứ hai, thông qua tạo việc làm cho TNNT, các doanh nghiệp, người sử dụng lao động lựa chọn sức lao động trẻ cần thiết theo khối lượng và chất lượng theo nhu cầu của mình. Nhưng không phải lúc nào cũng sẵn có lực lượng thanh niên cần thiết trong một khu vực, chính vì vậy nhờ việc giải quyết việc làm sẽ cung cấp đầy đủ các thông tin về ngành nghề, nơi nào đang 10 dư thừa lao động thanh niên và nơi nào thì khan hiếm lao động trẻ, cũng như việc TNNT cần phải trang bị những kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp gì để có thể kiếm được việc làm. Thứ ba, tạo việc làm cho TNNT có quy hoạch, kế hoạch sẽ giúp cho cả cho người sử dụng lao động cũng như bản thân thanh niên có những kế hoạch. Trong thực tế, những năm vừa qua cho thấy rằng, lao động trẻ có tay nghề cao, có óc sáng tạo, năng động, biết thích ứng nhanh với môi trường mới thì sẽ không bao giờ thiếu việc làm.
Mặc khác, tạo việc làm cho TNNT sẽ tạo ra môi trường làm việc thuận lợi, đảm bảo quan hệ qua lại trong tập thể lao động, cũng như giữa chủ doanh nghiệp với lao động trẻ. Thứ tư, tạo việc làm cho TNNT còn đảm bảo việc phân bổ lại lao động trẻ hoạt động kinh tế thường xuyên trong trường hợp sắp xếp, đổi mới lại các doanh nghiệp. Ở Việt Nam, vẫn đang cổ phần hoá, sắp xếp lại các doanh nghiệp đã làm cho lao động trẻ mất việc. Nhưng bên cạnh đó, cũng cho phép thành lập nhiều doanh nghiệp mới đã giải quyết nhiều chỗ việc làm mới cho lao động trẻ.
Tỷ trọng lao động trẻ trong các thành phần kinh tế, các ngành nghề, các khu vực dần thay đổi theo hướng hợp lý, thích ứng và phù hợp. Tóm lại, tạo việc làm cho TNNT có quy hoạch, kế hoạch hợp lý thì sẽ có tác động tích cực đến kinh tế - xã hội nói chung và bản thân TNNT. Nhưng, nếu không có sự quan tâm xây dựng, giải quyết hợp lý, sẽ tạo cho bản thân TNNT tính trông chờ, ỷ lại, thiếu ý chí phấn đấu, thờ ơ với các hoạt động chính trị, xã hội, chạy theo lối sống thực dụng, thiếu tôn trọng pháp luật và các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc, sa vào các tệ nạn xã hội dẫn đến vi phạm pháp luật, là thói quen ăn sâu vào tiềm thức của nhiều thế hệ trẻ. Quản lý nhà nƣớc về tạo việc làm cho thanh niên nông thôn 1.
Khái niệm Quản lý nhà nước về tạo việc làm Quản lý nói chung được quan niệm như một quy trình mà chủ thể quản lý tiến hành thông qua việc sử dụng các công cụ và phương pháp thích hợp nhằm tác động và điều khiển đối tượng quản lý hoạt động và phát triển phù hợp với quy luật khách quan và đạt được các mục tiêu đã định. Quản lý nhà nước (QLNN) là một dạng quản lý, xuất hiện cùng với nhà nước.