CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC BẰNG PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN TÁC GIẢ 1. Khái niệm, đặc điểm quản lý nhà nước bằng pháp luật về quyền tác giả 1. Khái niệm, đặc điểm quyền tác giả Từ những năm 80 trở lại đây, do tác động mạnh mẽ của khoa học và công nghệ hiện đại, đặc biệt là công nghệ thông tin, sinh học, vật liệu mới, năng lượng.nền kinh tế thế giới đang biến đổi sâu sắc, toàn diện, chuyển từ kinh tế công nghiệp sang kinh tế tri thức- nền kinh tế được xây bằng gạch vữa đang được thay thế bằng nền kinh tế của những ý tưởng và sáng tạo. Những thành quả do trí tuệ con người tạo ra thông qua hoạt động tư duy, sáng tạo trong các lĩnh vực của đời sống xã hội được gọi là tài sản trí tuệ.
Đây là một loại tài sản vô hình, không xác định được bởi đặc điểm vật chất của chính nó nhưng lại có giá trị lớn vì có khả năng sinh ra lợi nhuận. Tài sản trí tuệ bao gồm: tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ý tưởng; chương trình biểu diễn, bản ghi âm, chương trình phát sóng; sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu, tên thương mại; bí quyết kinh doanh, công thức pha chế; giống cây trồng mới, phầm mềm máy tính… Sở hữu tài sản trí tuệ thường được gọi là sở hữu trí tuệ. Sở hữu trí tuệ là một phạm trù rộng bao gồm các lĩnh vực khác nhau như quyền tác giả và quyền liên quan, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng. Quyền tác giả không chỉ là một thuật ngữ pháp lý, mà còn là một chế định pháp luật gồm tổng thể các quy phạm pháp luật xác định và bảo hộ quyền nhân thân, quyền tài sản của tác giả, chủ sở hữu tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học - các tác phẩm mang tính nguyên gốc; chống lại sự sao chép trái phép tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả và các quyền liên quan bao gồm cả quyền của người biểu diễn đối với các chương trình biểu diễn của họ; quyền của nhà sản xuất 8 bản ghi âm, ghi hình đối với các bản ghi của họ; quyền của tổ chức phát thành, truyền hình đối với các chương trình phát thanh truyền hình của họ.
Quyền nhân thân bao gồm các quyền sau đây: + Đặt tên cho tác phẩm; + Đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng; + Công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm; + Bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả[40]. Quyền tài sản bao gồm các quyền sau đây: + Làm tác phẩm phái sinh; + Biểu diễn tác phẩm trước công chúng; + Sao chép tác phẩm; + Phân phối, nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao tác phẩm; + Truyền đạt tác phẩm đến công chúng bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác; + Cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính[40]. Tác giả được hưởng quyền nhân thân vô thời hạn, còn với quyền tài sản tác giả được hưởng trong một thời gian nhất định. Bên cạnh việc ghi nhận các quyền dành cho tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, pháp luật cũng quy định các giới hạn quyền và các ngoại lệ nhằm cân bằng lợi ích giữa chủ sở hữu quyền, người khai thác, sử dụng quyền tác giả.
Pháp luật cũng quy định sự bảo hộ cho những người góp phần phổ biến tác phẩm đến công chúng, việc bảo hộ tốt quyền và lợi ích của những cá nhân, tổ chức này sẽ gián tiếp bảo hộ quyền lợi của tác giả. Quyền liên quan đến quyền tác giả (gọi tắt là quyền liên quan) là quyền của tổ chức, cá nhân đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng. Trong phạm vi Luận văn này, thuật ngữ quyền tác giả được hiểu bao gồm cả quyền tác giả và quyền liên quan. 9 Đặc điểm của quyền tác giả: Quyền tác giả là một loại quyền đặc biệt dotính chất đặc biệt của tài sản - tài sản vô hình.Quyền tác giả có các đặc điểm sau đây: Thứ nhất: quyền tác giả thiên về việc bảo hộ hình thức thể hiện tác phẩm.
Pháp luật về quyền tác giả chỉ bảo hộ hình thức chứa đựng tác phẩm khi nó được tạo ra và thể hiện dưới hình thức nhất định mà không bảo hộ nội dung sáng tạo tác phẩm. Quyền tác giả đối với tác phẩm chỉ được giới hạn trong phạm vi thể hiện cụ thể của tác phẩm mà không bao gồm ý tưởng của tác giả thể hiện trong tác phẩm. Những ý tưởng, cách sắp xếp, trình bày đã có trong suy nghĩ của tác giả nhưng chưa được thể hiện ra bên ngoài bằng hình thức nhất định thì không có căn cứ để công nhận và bảo hộ. Pháp luật về quyền tác giả không quy định điều kiện về nội dung đối với tác phẩm được bảo hộ.
Trong khi đó, quyền sở hữu công nghiệp bảo hộ nội dung của đối tượng, đối tượng sở hữu công nghiệp phải đáp ứng được các điều kiện nhất định. Thứ hai:quyền tác giả phát sinh một cách tự động kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất lượng, phương tiện, ngôn ngữ. Việc bảo hộ này không phụ thuộc vào việc tác phẩm đã được công bố hay chưa công bố, đã được đăng ký hay chưa đăng ký. Việc đăng ký quyền tác giả không phải là căn cứ làm phát sinh quyền tác giả mà chỉ có giá trị pháp lý là chứng cứ chứng minh khi có tranh chấp.
Thứ ba: quyền tác giả bị giới hạn về không gian và thời gian. Về không gian, bảo hộ quyền tác giả mang tính chất lãnh thổ, quyền tác giả chỉ có hiệu lực trong phạm vi lãnh thổ từng quốc gia. Điều này có nghĩa là sẽ chỉ bảo hộ quyền tác giả nếu nó đáp ứng các yêu cầu pháp lý của pháp luật quốc gia nơi yêu cầu bảo hộ. Quyền tác giả có thể được bảo hộ mở rộng ra bên ngoài lãnh thổ quốc gia thông qua các cam kết song phương và đa phương.
Về thời gian, tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả được bảo hộ quyền tài sản trong một khoảng thời gian nhất định, sau thời gian đó tác phẩm thuộc về công 10 chúng. Khi đó công chúng được tự do sử dụng tác phẩm mà không phải xin phép và trả tiền bản quyền nữa. Thời hạn bảo hộ quyền tác giả tùy thuộc pháp luật các quốc gia quy định. Thời hạn bảo hộ quyền nhân thân thường là vĩnh viễn.
Còn thời hạn bảo hộ quyền tài sản được tính theo hai nguyên tắc. Nguyên tắc thứ nhất tính theo đời người, tức là thời hạn bảo hộ đối với tác phẩm là suốt cuộc đời tác giả và một số năm nhất định. Thông thường pháp luật các nước quy định thời hạn này là 50 năm. Tuy nhiên, xu hướng hiện nay của các nước Châu Âu là 70 năm.
Còn pháp luật Việt Nam quy định thời hạn bảo hộ đối với loại hình này là suốt cuộc đời tác giả và 50 năm sau khi tác giả chết. Nguyên tắc thứ hai là thời hạn bảo hộ sẽ là một số năm nhất định tính từ thời điểm công bố hoặc định hình. Pháp luật Việt Nam quy định thời hạn bảo hộ đối với một số loại hình tác phẩm như điện ảnh, mỹ thuật ứng dụng, nhiếp ảnh là 75 năm kể từ khi công bố, trong trường hợp tác phẩm chưa công bố trong vòng 25 năm kể từ khi định hình thì thời hạn bảo hộ là 100 năm kể từ khi định hình. Thứ tư: quyền tác giả là tài sản vô hình nên có thể khai thác, sử dụng trong cùng một thời gian bởi nhiều chủ thể khác nhau ở nhiều nơi.
Các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học là các sáng tạo trong các lĩnh vực đời sống tinh thần, với đặc tính vô hình, nên nó có thể được lan truyền rộng rãi, do đó rất khó cho việc kiểm soát việc khai thác, sử dụng. Vì vậy, khai thác quyền sử dụng là nội dung quan trọng nhất của quyền tác giả với đặc tính gắn liền với mục đích thương mại. Đặc biệt, ngày nay khi công nghệ kỹ thuật số phát triển, cùng với sự ra đời của internet, thì đây vừa là cơ hội khai thác thương mại các tác phẩm trong môi trường số, vừa là thách thức đặt ra cho việc bảo hộ quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số. Việc kiểm soát các hành vi sao chép, phân phối trên mạng, sử dụng tác phẩm không xin phép tác giả, chủ sở hữu gặp rất nhiều khó khăn.
Để ngăn chặn, phát hiện và xử lý nhanh chóng các hành vi xâm phạm quyền tác giả, bên cạnh việc có đầy đủ hệ thống văn bản pháp luật với các chế tài đủ sức răn đe, đòi hỏi hệ thống các cơ quan quản lý và thực thi có đủ năng lực và hợp tác có hiệu quả để bảo hộ quyền tác giả. Khái niệm quản lý nhà nước bằng pháp luật về quyền tác giả Quản lý: là một khái niệm được tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau. Theo từ điển Luật học, quản lý được hiểu là sự tác động của chủ thể lên đối tượng theo mục tiêu nhất định [53, tr. Theo quan niệm của khoa học điều khiển, quản lý là: “điều khiển, chỉ đạo một hệ thống hay một quá trình, căn cứ vào những quy luật, định luật hay nguyên tắc tương ứng để cho hệ thống hay quá trình ấy vận động theo ý muốn của người quản lý nhằm đạt được những mục đích đã định trước”[50, tr.
Như vậy, có thể hiểu quản lý là sự tác động có kế hoạch, có tính toán trước của người quản lý lên đối tượng được quản lý nhằm đạt được những mục đích đã được định trước. Quan niệm trên đây không những phù hợp với sự vận động của thiết bị tự động hóa, máy móc cơ giới mà còn đúng với cả tập thể người, tổ chức hay cơ quan nhà nước, và cũng phù hợp với quản lý xã hội. Khi xã hội càng phát triển thì nhu cầu quản lý xã hội càng tăng và nội dung quản lý theo đó càng trở nên phức tạp. Do đó để thực hiện hoạt động quản lý cần phải có tổ chức và quyền uy.